Hướng Dẫn Đóng Ảnh Khi Không Sử Dụng Trong Photoshop

0

Tìm hiểu các cách khác nhau để đóng ảnh trong PTS sau khi đã xem hay làm việc xong. Bao gồm cách đóng một ảnh, cách đóng nhiều ảnh cùng lúc, cách đóng ảnh với các thay đổi chưa được lưu và cách đóng ảnh sau đó quay trở lại Adobe Bridge.

Trong loạt bài hướng dẫn về cách đưa ảnh vào PTS, chúng ta đã học cách cài đặt PTS thành trình chỉnh sửa ảnh mặc định. Cũng đã tìm hiểu về cách mở hình ảnh bằng màn hình Start của PTS và cách mở chúng vào PTS từ Adobe Bridge. Thậm chí chúng ta cũng đã xem xét đến cách mở ảnh và chỉnh sửa chúng trong Camera Raw trước khi chuyển sang PTS.

Biết cách để đưa ảnh vào PTS là điều quan trọng, nhưng bạn cũng nên biết cả việc đóng ảnh khi đã hoàn thành công việc. Trong bài hướng dẫn này, chúng ta sẽ tìm hiểu cách đóng một ảnh hay nhiều ảnh cùng lúc. Đồng thời xem xét điều gì sẽ xảy ra khi cố gắng đóng một hình ảnh với các thay đổi chưa được lưu lại. Cuối cùng chúng ta sẽ học cách đóng ảnh và quay trở lại Adobe Bridge.

Cách Đóng Một Ảnh Trong PTS

Hiện mình đang mở đúng một ảnh trong PTS:

Một ảnh được mở trong Photoshop CC. Nguồn: Steve Patterson.

Để đóng một ảnh, di chuột tới menu File, chọn Close. Ngoài ra bạn có thể sử dụng tổ hợp phím tắt: Ctrl+W (Windows) hoặc Command+W (Macbook):

Để đóng một ảnh, di chuột tới File > Close.

Một cách khác để đóng ảnh đó là nhấp vào dấu “x” nhỏ trong tab tài liệu. Đối với máy windows, dấu “x” nằm ở ngoài cùng phía bên phải của tab. Còn đối với Macbook nó nằm ở bên trái:

Nhấn vào “x” trên tab document để đóng ảnh.

Làm Thế Nào Để Đóng Nhiều Ảnh Cùng Lúc?

Nếu bạn đang mở hai hoặc nhiều ảnh hơn trong PTS và cần đóng tất cả lại, bạn có thể đóng từng ảnh một hoặc để nhanh hơn thì có thể đóng tất cả cùng lúc. Hãy di chuột tới menu File và chọn Close All. Hoặc dùng tổ hợp phím tắt: Ctrl+Alt+W (Windows) hoặc Command+Option+W (Mac)book:

Để đóng tất cả ảnh, di chuột tới File > Close All.

Đóng Ảnh Chưa Lưu Lại Các Thay Đổi

Nếu bạn nhìn thấy có một dấu “*” sau tên tệp và thông tin khác trong tab document, nó có nghĩa là bạn đã thực hiện việc chỉnh sửa ảnh nhưng chưa lưu lại:

Dấu hoa thị nhỏ nghĩa là bạn chưa lưu lại quá trình chỉnh sửa trên ảnh.

Để đóng ảnh dạng này, di chuột tới menu File chọn Close. Hoặc nhấp và biểu tượng “x” trong tab document. PTS sẽ hỏi bạn có muốn lưu lại những gì đã làm trước khi đóng ảnh hay không.

Đối với Windows: có 3 tùy chọn Yes (lưu lại), No (không lưu), Cancel (hủy quá trình đóng)

Đối với Macbook: có 3 tùy chọn Save (lưu lại), Don’t Save (không lưu), Cancel (Hủy):

Chọn lưu lại quá trình làm việc hoặc không.

Một điều hết sức quan trọng cần lưu ý, khi bạn chọn No hay Don’t Save, PTS vẫn sẽ đóng hình ảnh lại. Bởi vì chọn không lưu cho nên toàn bộ công việc chỉnh sửa trước đó của bạn cũng sẽ biến mất. Nếu bạn muốn hủy quá trình đóng ảnh và quay lại hình ảnh hãy chọn Cancel:

Đóng Cùng Lúc Nhiều Ảnh Chưa Lưu Lại Quá Trình Chỉnh Sửa

Nếu có hai hay nhiều hình ảnh đang mở cùng lúc và các thay đổi chỉnh sửa vẫn chưa được lưu, bạn có thể đóng tất cả chúng bằng cách di chuột tới menu File rồi chọn Close All. Trước khi đóng ảnh đầu tiên, PTS sẽ hỏi liệu bạn có muốn lưu lại quá trình chỉnh sửa hay không. Sẽ có các tùy chọn tương tự như bên trên: Lưu Lại, Không Lưu hoặc Hủy.

Nếu muốn áp dụng cùng một lựa chọn cho tất cả các ảnh đang chờ đóng, hãy tích vào Apply to All, sau đó đưa ra lựa chọn của bạn:

Chọn “Apply to All” để lưu hoặc không lưu tất cả các ảnh đang chờ.

Làm Thế Nào Để Đóng Ảnh Và Quay Trờ Lại Adobe Bridge?

Cuối cùng nếu như bạn đang sử dụng Adobe Bridge để chọn và mở ảnh vào PTS, bạn có thể đóng ảnh và quay lại Bridge bằng cách di chuột tới menu File rồi chọn Close and Go to Bridge:

Di chuột tới File > Close and Go to Bridge.

Thao tác này sẽ đóng ảnh và đưa bạn trở lại Adobe Bridge (nơi bạn có thể chọn ảnh tiếp theo muốn mở trong PTS):

Adobe Bright CC.

Hướng Dẫn Chuyển Các Tệp Ảnh Raw Từ Lightroom Sang Photoshop

0

Tìm hiểu về cách di chuyển các tệp raw từ Adobe Lightroom sang PTS để chỉnh sửa thêm. Làm cách nào để đưa lại ảnh quay về Lightroom sau khi đã hoàn tất chỉnh sửa? Chúng ta sẽ tìm hiểu về Lightroom CC và Photoshop CC cũng như cách chuyển đổi hình ảnh linh hoạt giữa 2 trình sửa ảnh này.

Cả Lightroom và Photoshop đều là những trình chỉnh sửa ảnh tuyệt vời. Thay vì cạnh tranh xem cái nào chỉnh sửa ảnh tốt hơn thì mỗi cái lại có điểm mạnh điểm yếu riêng bù trừ lẫn nhau. Lightroom khá tuyệt vời cho các chỉnh sửa ban đầu của hình ảnh do tính chất không phá hủy và điểu chỉnh trực quan của nó. Chúng ta dễ dàng chỉnh exposure (độ phơi sáng), white balance (cân bằng trắng), enhance contrast (tăng cường độ tương phản) và color saturation (độ bão hòa màu), thêm một số độ sắc nét cho bức ảnh và nhiều hơn thế nữa.

Tuy nhiên Lightroom lại không phải là một trình chỉnh sửa pixel, nó hoạt đồng bằng cách lưu trữ các chỉnh sửa và nâng cao giao diện hình ảnh. Những gì chúng ta thấy trên Lightroom tựa như một bản xem trước hình ảnh xem liệu nó sẽ ra sao nếu áp dụng những chỉnh sửa đó. Lợi ích của quy trình làm việc như vậy chính là nó không phá hủy ảnh gốc. Tuy nhiên nhược điểm là chúng ta chỉ chỉnh sửa được những phần không phá hủy đến cấu trúc ảnh gốc. Tại một số điểm, chúng ra cần thực hiện thay đổi đối với các pixel trong chính hình ảnh đó.

Lightroom không thể làm điều đó bởi nó không phải là trình chỉnh sửa pixel. Nhưng PTS thì hoàn toàn có thể. Điểm mạnh của PTS chính bản thân nó là một công cụ chỉnh sửa pixel, khiến cho việc chỉnh sửa cục bộ trở nên tuyệt vời. Ở PTS có rất nhiều tính năng mà Lightroom không hề có, ví dụ như selection tools, layer và layer mask, blend mode, khả năng thêm văn bản và đồ họa hình ảnh v.v. Ngoài ra PTS cũng cho phép làm việc sáng tạo hơn do có nhiều bộ lọc và khả năng kết hợp nhiều hình ảnh lại với nhau. Đây là điều mà Lightroom không thể làm được.

Một quy trình làm việc tuyệt vời chính là bắt đầu chỉnh sửa toàn diện với Lightroom. Sau khi đã hoàn thành tất cả chỉnh sửa có thể làm trong Lightroom, chúng ta sẽ chuyển hình ảnh sang PTS để chỉnh sửa sáng tạo hơn. Tuy nhiên, khi bắt đầu làm việc trong Lightroom thì kết thúc công việc cũng phải tại Lightroom. Bởi vì Lightroom quản lý và sắp xếp hình ảnh, theo dõi các chỉnh sửa được lưu trữ. Lightroom lưu trữ tất cả thông tin này trong một cơ sở dữ liệu gọi là catelog (danh mục). Vì Lightroom và PTS có liên kết chặt chẽ với nhau cho nên Lightroom có thể tự động thêm phiên bản đã chỉnh sửa của hình ảnh vào catolog của nó khi chúng ta lưu lại công việc chỉnh sửa trong PTS. Dĩ nhiền nó có thể làm được điều này chỉ khi chúng ta làm theo đúng các bước trong bài hướng dẫn sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ các bước đó xuyên suốt bài viết này.

Lightroom được thiết kế chủ yếu như một trình chỉnh sửa ảnh raw, tuy nhiên nó vẫn có thể hoạt động tốt với các tệp như JPEG, TIFF, PSD v.v. Nhưng trong bài này chúng ta sẽ chỉ tập trung vào tệp raw. Có một khác biệt nhỏ giữ chuyển tệp raw và tệp định dạng khác từ Lightroom sang PTS, cho nên chúng ta sẽ đề cập đến các tệp định dạng khác ở bài sau.

Bước 1: Thực Hiện Việc Chỉnh Ảnh Ban Đầu Trong Lightroom

Để giúp mọi người theo dõi bài hướng dẫn này một cách dễ dàng, mình sẽ không trình bày chi tiết về Lightroom hay PTS tại đây. Thay vào đó mình sẽ lướt qua nhanh một số điểm không thực sự quan trọng, mục đích chính là để các bạn có thể tập trung chú ý vào cách di chuyển các tệp tho giữa Lightroom và PTS.

Như đã đề cập, Lightroom là môi trường làm việc ban đầu cực tốt. Bạn có thể nhìn xuống ảnh dưới để thấy mình đang làm việc trong mô đun Develop của Lightroom. Bức ảnh này được người ta chụp lại khi đang đi du thuyền ở Alaska (tinh mắt hơn sẽ thấy một con tàu du lịch khác ở phía xa):

Một tệp raw được mở trong mô đun Develop của Lightroom.

Hãy nhìn vào bảng điều khiển cơ bản bên tay phải, có thể thấy rằng mình đã thực hiện một số thay đổi tổng thế bước đầu với white balance (cân bằng trắng), exposure (độ phơi sáng), contrast (độ tương phản), color saturation (độ bão hòa màu) v.v.

Những thay đổi tổng thể ban đầu.

Điều quan trọng cần lưu ý ảnh này là tệp raw, tức là nó được máy ảnh chụp ở định dạng raw. Tại sao có thể biết nó là tệp raw? Hãy nhìn vào thanh chạy dọc ở phía trên, tệp hiện có đuôi “.dng”. DNG là viết tắt của Digital Negative, nó là định dạng tệp raw của riêng Adobe. Mỗi hãng máy ảnh lại có một định dạng ảnh raw bằng 3 chữ cái riêng:

Ví dụ: Canon “.crw” hoặc “cr2”, Nikon “.nef” v.v.

Điểm quan trọng ở đây không phải là phần mở rộng cụ thể, mà nó chính là một tệp raw chứ không phải JPEG, TIFF hay PSD. Chúng ta sẽ đề cập đến những điều này trong hướng dẫn tiếp theo:

Phân đuôi mở rộng gồm ba chữ cái cho biết loại tệp chúng ta đang làm việc.

Bước 2: Chuyển Ảnh Sang PTS

Nếu như mình đã hoàn tất công việc với Lightroom và giờ đây muốn thêm những thứ khác vào ảnh của bạn thì lúc này cần chuyển tệp raw sang PTS (bởi Lightroom không có chức năng add thêm thứ gì đó vào ảnh).

Có thể bạn sẽ nghĩ tới cách lưu lại ảnh trong Lightroom rồi sau đó quay ra mở PTS và thực hiện mở tệp raw theo cách thủ công. Tuy nhiên, có thể bạn không biết, Lightroom và PTS liên kết hoạt động khá chặt chẽ. Để chuyển tệp raw sang PTS, chỉ cần di chuột tới menu Photo (trong Lightroom) nằm ở thanh menu phía trên màn hình, Chọn Edit In, sau đó ấn vào Edit in Adobe Photoshop (phiên bản cụ thể của bạn cũng sẽ đi kèm ngay phía sau, như của mình là Photoshop CC 2015). Hoặc đơn giản hơn bạn có thể dử dụng phím tắt:

Windows: Ctrl+E

Macbook: Command+E

Di chuột tới Photo > Edit In > Edit in Adobe Photoshop.

Thao tác này sẽ mở PTS (nếu như bạn chưa mở sẵn PTS) và sau đó hình ảnh sẽ được mở ra trong PTS:

Bức ảnh tương tự giờ đây đã được chuyển từ Lightroom sang PTS.

Vậy Điều Gì Đã Xảy Ra Với Camera Raw?

Nếu như bạn đã từng làm việc với Camera Raw trước đây, chắc chắn bạn sẽ tự hỏi “Làm thế nào để PTS có thể mở trực tiếp một tệp raw?”

Thông thường khi chúng ta cố gắng mở một tệp raw trong PTS, hình ảnh sẽ mở ra trong plugin Adobe Camera Raw. Đó là bởi PTS không thể hoạt động với các tệp raw. PTS vốn dĩ là một trình chỉnh sửa pixel, không phải trình chỉnh sửa ảnh raw. Nó cần một trình hoặc plugin khác (ví dụ như Camera Raw) để chuyển đổi tệp raw thành pixel trước khi mở ra.

Adobe Camera Raw thường xuất hiện khi chúng ta cố gắng mở tệp raw vào PTS.

Tuy nhiên, plugin Camera Raw lại không xuất hiện khi chuyển tệp raw từ Lightroom sang PTS. Khi đó, hình ảnh được mở trực tiếp trong PTS. Tại sao điều này có thể xảy ra khi mà PTS vốn dĩ không thể mở các tệp raw?

Lý do là bởi vì Lightroom và Camera Raw sử dụng cùng một công cụ xử lý thô chính xác. Thực chất khi chúng ta chuyển một tệp thô từ Lightroom sang PTS, Camera Raw đã “lặng lẽ” kiểm tra các chỉnh sửa chúng ta đã thực hiện trên Lightroom, sau đó chuyển đổi tương tự để chuyển ảnh từ tệp raw sang pixel. Hay nói cách khác, tệp raw hoàn toàn không được mở trực tiếp trên PTS. Camera Raw đã tác động ở “phía sau” để chuyển đổi nó thành hình ảnh dựa trên pixel bằng cách sử dụng các chỉnh sửa mà chúng ta đã thực hiện trên Lightroom.

Bước 3: Chỉnh Sửa Ảnh Trên Photoshop

Sau khi ảnh đã được mở trong PTS, chúng ta có thể giờ đây có thể add thêm những gì mình thích vào ảnh. Mình sẽ sử dụng Type Tool nằm trên Toolbar phía bên trái màn hình:

Chọn Type Tool trong PTS.

Mình chọn font chữ Tahoma Bold trong thanh tùy chọn và set chữ màu trắng, sau đó mình sẽ nhấp vào bên trong ảnh và bắt đầu viết chữ vào. Vì bức ảnh được chụp ở Alaska nên mình sẽ thêm là “ALASKA’’. Sau khi viết xong, nhấn Ctrl+Enter (Windows) hoặc Command+Return (Macbook):

Thêm chữ vào ảnh trong PTS.

Để chỉnh kích cỡ và thay đổi vị trí văn bản, di chuột tới menu Edit ở phía trên màn hình rồi chọn Free Transform:

Đi tới Edit > Free Transform.

Thao tác này sẽ xuất hiện khung Free Transform xung quanh văn bản. Nhấn và giữ phím Shift để khóa tỷ lệ khung hình của văn bản khi nhấp và kéo các chốt để thay đổi kích thước. Sau đó, di chuột vào trong văn bản, nhấp và kéo để di chuyển đến đúng vị trí cần thiết. Để xác nhận nhấn phím Enter (Windows) hoặc Return (Macbook):

Thay đổi kích thước và di chuyển văn bản với Free Transform.

Bước 4: Lưu Và Đóng Hình Ảnh

Đây là ảnh sau khi đã được chèn thêm văn bản:

Ảnh sau khi chèn thêm chữ.

Bước tiếp theo đây rất quan trọng bởi cần đảm bảo Lightroom ghi nhận những gì mình đã làm với hình ảnh. Sau tất cả, hai chương trình liên kết với nhau một cách chặt chẽ.

Để lưu lại công việc sau khi chuyển ảnh từ Lightroom sang PTS, chuyển đến menu File trên đầu màn hình rồi chọn Save. Quan trọng là bạn phải ấn vào “Save” chứ không phải “Save As”. Lý do chọn như vậy, là để Lightroom có thể thêm phiên bản đã chỉnh sửa vào danh mục của nó (chính là cơ sở dữ liệu). Phiên bản đã chỉnh sửa cần được lưu trong cùng thư mục với ảnh gốc. Nó sẽ không hoạt động nếu bạn lưu nó ở một nơi khác. Nếu chọn “Save As” rất dễ có khả năng chúng ta sẽ lưu sai vị trí vì thế hãy nhớ chọn “Save” để tệp được tự động lưu cùng vị trí với ảnh gốc:

Đi tới File > Save.

Khi đã lưu lại quá trình chỉnh sửa, bạn có thể đóng ảnh trong PTS bằng cách di chuột tới menu File và chọn Close:

Đi tới File > Close.

Bước 5: Quay Lại Lightroom

Khi ảnh đã đóng, hãy quay lại Lightroom. Tại đây bạn sẽ thấy hình ảnh hiện đã được cập nhật các chỉnh sửa vừa thực hiện trong PTS:

Lightroom cập nhật các chỉnh sửa đã thực hiện trong PTS.

Tuy nhiên nếu nhìn xuống Filmstrip dọc theo phần dưới cùng của Lightroom, ta có thể nhận ra rằng có hai phiên bản cho bức ảnh đó. Tại sao ư? Khi tiến hành chuyển tệp raw từ Lightroom sang PTS thì vốn dĩ Lightroom không chuyển ảnh gốc. Thay vào đó nó tạo ra một bản sao của hình ảnh rồi chuyển bản sao đó sang PTS. Lý do tất nhiên là bởi PTS không thể làm việc trực tiếp với các tệp raw cho nên nó cần một phiên bản pixel để hoạt động.

Mình sẽ tăng kích thước Filmstrip để có thể nhìn rõ hơn các hình thu nhỏ. Lưu ý chỉ một trong số chúng hiển thị văn bản mình đã thêm vào PTS (cái hiện được chọn ở bên trái). Đây là bản sao mà Lightroom gửi qua PTS và sau đó được gửi trở lại Lightroom. Phiên bản còn lại (bên phải) không hiển thị văn bản đã được thêm vào trong quá trình làm việc với PTS bởi nó là ảnh gốc. Nó cho thấy những điều chỉnh mình đã thực hiện trong Lightroom nhưng không có gì khác:

Danh mục của Lightroom bao gồm cả ảnh gốc và bản sao được chỉnh sửa bằng PTS.

Một cách khác để nhận ra phiên bản bên trái là bản đã được chỉnh sửa qua trong PTS đó là tên của tệp. Thứ nhất, hình ảnh không còn là một tệp raw (ảnh ban đầu có định dạng “.dng”). Bản mới này được lưu dưới dạng tệp TIFF (đuôi “.tif”). Thứ hai, tên của tệp cũng đã thay đổi, “-Edit’’ tự động được thêm vào phía cuối tên:

Bản sao tự động được lưu lại dưới dạng tệp TIFF.

Có một cách nữa để nhận ra đây không phải ảnh gốc. Nếu nhìn vào bảng Basic, chúng ta thấy rằng tất cả các điều chỉnh về Exposure, Contrast, Color v.v. đã được đặt lại về 0 (các điều chỉnh ban đầu thực hiện trên tệp raw được đưa vào bản sao khi chuyển qua PTS). Chúng ta vẫn có thể thực hiện thêm các điều chỉnh trong Lightroom nếu cần thiết, tuy nhiên nó sẽ không linh hoạt được như lúc làm việc với ảnh raw ban đầu. Đó là lý do tại sao bạn chỉnh sửa trên Lightroom trước khi chuyển tệp sang PTS:

Bảng Basic đã không còn hiểu thị những điều chỉnh đã được thực hiện trên tệp thô ban đầu.

Chỉnh Sửa Thêm Trong PTS

Nếu như cần chỉnh sửa thêm cho ảnh trong PTS thì phải làm sao? Tất nhiên chúng ta không thể làm điều đó trong Lightroom mà cần phải mở lại ảnh trong PTS.

Như đã nói bên trên, bản sao sau khi được chỉnh sửa ở PTS đã được lưu lại dưới dạng tệp TIFF, tuy nhiên dù là ở định dạng nào thì khi chuyển từ Lightroom sang PTS chúng ta vẫn làm theo cách ban đầu. Di chuột tới menu Photo trong Lightroom, chọn Edit In sau đó chọn Edit in Adobe Photoshop. Hoặc dùng tổ hợp phím:

Windows: Ctrl+E

Macbook: Command+E

Photo > Edit In > Edit in Adobe Photoshop.

Lần này sẽ có chút khác biệt so với trước. Khi chuyển tệp raw sang PTS, Lightroom sẽ tự động tạo bản sao của hình ảnh và gửi bản sao đó sang, bởi vì PTS không thể làm việc trực tiếp với các tệp raw. Nhưng lần này, chúng ta chuyển sang loại tệp có thể hoạt động trong PTS (tệp TIFF). Do đó Lightroom sẽ hỏi liệu chúng ta muốn mở bản nào trong PTS:

Với các tệp không phải tệp raw, Lightroom sẽ hỏi bạn muốn chuyển bản nào sang PTS.

Lựa chọn đầu tiên: “Edit a Copy with Lightroom Adjustments”. Đây không phải là cái chúng ta muốn chuyển (trong trường hợp này). Tùy chọn này sẽ tạo ra một bản sao khác của hình ảnh, bao gồm tất cả thay đổi bổ sung mà chúng ta thực hiện trong Lightroom kể từ lần cuối cùng chỉnh sửa trong PTS. Trong trường hợp này mình chưa thực hiện thay đổi nào ở Lightroom cho nên không có gì ở đây để đưa vào.

Lý do chính khiến cho đây không phải là lựa chọn tốt khi chỉnh sửa lại ảnh trong PTS là bởi nó sẽ làm phẳng hình ảnh và loại bỏ các layer của bạn. Trong trường hợp này, layer Type của mình sẽ được hợp nhất với hình ảnh khiến cho mình không thực hiện được bất kỳ chỉnh sửa nào với nó nữa. Tùy chọn Edit a Copy with Lightroom Adjustments chỉ hữu ích trong các trường hợp khác (khi tìm hiểu về cách làm việc với tệp JPEG trong Lightroom), còn ở đây chúng ta không nên chọn nó.

Lựa chọn thứ hai: “Edit a Copy”. Đây là lựa chọn tốt hơn so với lựa chọn trên, bởi nó sẽ không làm phẳn hình ảnh của bạn. Tuy nhiên nó vẫn sẽ tạo ra một bản sao khác mà thực sự không cần thiết.

Lựa chọn thứ ba “Edit Original” chính là lựa chọn tốt nhất để chỉnh sửa lại ảnh trong PTS. Nó sẽ không tạo bất kỳ bản sao thừa thãi nào, cho phép bạn chỉnh sửa lại cùng một tệp và tất nhiên sẽ không làm phẳng hình ảnh, các lớp layer đã thêm trước đó vẫn còn nguyên vẹn. Điều này có thể gây ra chút nhầm lẫn khi hình ảnh xuất hiện trong PTS vì nó sẽ giống như là các điều chỉnh gần nhất của bạn bị thiếu đi. Tuy nhiên đó chỉ là tạm thời. Ngay sau khi bạn lưu công việc trong PTS và quay lại Lightroom, các điều chỉnh trên Lightroom của bạn sẽ lại hiển thị cùng các thay đổi bạn đã thực hiện trong PTS.

Mình sẽ chọn Edit Original, sau đó nhấn Edit:

Chọn “Edit Original” sau đó nhấn “Edit”.

Ảnh một lần nữa mở ra trong PTS (ảnh định dạng TIFF):

Hình ảnh được chỉnh sửa trước đó được mở lại trong PTS.

Nhìn vào tab document dọc bên trên hình ảnh, có thể thấy rằng đây là tệp giống như trước đó:

Tên tệp khớp với tên bên Lightroom.

Nếu nhìn vào bảng Layer, layer Type mình tạo trước đó vẫn còn nguyên. Chính xác những gì mình đã làm:

Bảng Layer hiển thị các layer trước đó vẫn được giữ nguyên.

Để blend văn bản với hình ảnh, trước tiên cần đảm bảo layer type được chọn. Sau đó thêm lớp layer mask bằng cách ấn vào biểu tượng “Add Layer Mask” ở cuối bảng Layer. Mình sẽ thực hiện bước này nhanh gọn bởi nó không phải trọng tâm của bài hướng dẫn:

Thêm layer mask và layer Type.

Sau khi thêm layer mask, mình chọn Gradient Tool trên Toolbar:

Chọn Gradient Tool.

Với công cụ Gradient Tool, nhấp chuột phải (đối với Windows) hoặc Control (Macbook) để mở Gradient Picker, chọn Gradient ‘‘đen sang trắng’’ bằng cách nhấp đúp vào hình thu nhỏ của nó. Sau khi đã chọn gradient hãy đóng Gradient Picker lại:

Chọn màu “đen sang trắng” trong Gradient Picker.

Để blend hình ảnh cùng văn bản, hãy nhấp vào gần cuối văn bản và kéo về phía trung tâm, nhấn giữ phím Shift khi kéo để giới hạn góc khi di chuyển, điều này giúp cho dễ dang kéo thẳng lên theo chiều dọc:

Kéo gradient đen sang trắng trên layer mask từ dưới cùng về trung tâm văn bản.

Thả chuột để hoàn thành gradient. Vì đã vẽ gradient trên layer mask, không phải layer chính, nên sẽ không thấy gradient thực sự trong tài liệu. Thay vào đó phần chữ bây giờ như hòa vào làm một với dãy núi phía sau:

Hiệu ứng sau khi vẽ gradient trên layer mask.

Cuối cùng để blend văn bản và hình ảnh, mình sẽ thay đổi chế độ blend của layer Type ở phía bên trái bảng điều khiển từ Normal sang Soft Light:

Đổi chế độ blend cú layer Type sang Soft Light.

Và đây là thành quả:

Thành quả cuối cùng.

Sau khi đã hoàn thành trong PTS, chúng ta sẽ lưu công việc giống như trước đây. Di chuột đến menu File và chọn Save:

File > Save.

Sau đó đóng ảnh trong PTS, lại di chuột đến File rồi chọn Close:

File > Close.

Với hình ảnh được lưu và đóng trong PTS, sau khi quay lại Lightroom, chúng ta có thể thấy tệp hiện đã được cập nhật những chỉnh sửa vừa xong trong PTS:

Danh mục của Lightroom một lần nữa cập nhật những thay đổi đã được thực hiện trong PTS.

Hưỡng Dẫn Mở Ảnh Vào Camera Raw Với Photoshop

0

Tìm hiểu cách mở hình ảnh (bao gồm cả tệp raw, JPEG và TIFF) trực tiếp vào Camera Raw – trình chỉnh sửa ảnh tuyệt vời trong PTS.

Mình đã hướng dẫn về cách cài đặt PTS trở thành trình chỉnh sửa ảnh mặc định trên máy tính và chúng ta cũng đã tìm hiểu về cách mở ảnh từ PTS và cách mở ảnh vào PTS từ Adobe Bridge.

Mặc dù PTS là trình chỉnh sửa ảnh quyền lực và phổ biến nhất trên thế giới, nhưng nếu bạn là một nhiếp ảnh gia thì bạn lại thích mở ảnh để chỉnh sửa trên Camera Raw (một plugin chỉnh ảnh của PTS) hơn là sửa trực tiếp trên PTS.

Camera Raw ban đầu được thiết kế để giúp xử lý các tệp raw, chính là các hình ảnh được chụp từ máy ảnh với định dạng ảnh raw. Tuy nhiên, Camera Raw giờ đã phát triển để hỗ trợ cả ảnh định dạng JPEG và TIFF.

Không được sử dụng rộng rãi trong mọi ngành nghề sáng tạo như PTS, Camera Raw được tạo ra dành riêng cho các nhiếp ảnh gia. Nó sử dụng bố cục đơn giản, phù hợp với quy trình chỉnh sửa ảnh thông thường từ đầu đến cuối. Điều này khiến cho việc chỉnh sửa ảnh trong Camera Raw trở nên tự nhiên và trực quan hơn nhiều.

Không giống như PTS (được sử dụng rộng rãi trong mọi ngành nghề sáng tạo) Camera Raw được thiết kế phù hợp cho công việc của các nhiếp ảnh gia với bố cục đơn giản cùng quy trình chỉnh sửa ảnh thông dụng. Điều này khiến cho Camera Raw trở nên tự nhiên và trực quan hơn nhiều. Tuy nhiên, Camera Raw không hề phá hủy hình ảnh gốc, bạn có thể chỉnh sửa tùy thích và nếu cần bạn vẫn có thể khôi phục lại ảnh gốc ban đầu bất kỳ lúc nào.

Mình sẽ nói rõ hơn về Camera Raw trong bài hướng dẫn chi tiết riêng về nó. Còn bây giờ chúng ta tập trung vào cách mở ảnh trực tiếp vào Camera Raw. Bắt đầu từ các tệp thô trước nhé, bởi nó là tệp dễ mở nhất, sau đó sẽ đến JPEG và TIFF.

Cách tốt nhất là sử dụng Adobe Bridge để mở ảnh vào Camera Raw. Nếu bạn chưa quen với Adobe Bridge, mình đã hướng dẫn những kiến thức cơ bản, bao gồm cả cách cài đặt Bridge trong bài viết Hướng Dẫn Mở Ảnh Từ Adobe Bridge. Nếu như chưa nắm rõ về nó, hãy đọc lại trước khi bắt đầu bài hướng dẫn này.

Mở Adobe Bridge Từ PTS

Để mở Adobe Bridge từ PTS, di chuột đến menu File, chọn Browse in Bridge:

File > Browse in Bridge.

Thao tác này sẽ khởi chạy Bridge, nó điều hướng đến thư mục trên desktop nơi chúng ta lưu ảnh. Có ba hình ảnh trong thư mục và Bridge hiển thị nó dưới dạng hình thu nhỏ trong bảng Content nằm chính giữa màn hình:

Bridge hiển thị hình thu nhỏ của ảnh trong thư mục.

Quan sát kĩ hơn chúng ta sẽ thấy ba ảnh này có định dạng khác nhau. Ảnh đầu tiên “motel_sign.dng” là tệp thô. Ảnh thứ hai “beach.jpg” có định dạng JPEG. Cuối cùng là “horses.tif” có định dạng TIFF:

Ba ảnh với ba định dạng khác nhau.

Cách Mở Tệp Raw Vào Camera Raw

Hãy bắt đầu với tệp raw (“motel_sign.dng”). Việc mở các tệp raw rất dễ dàng bởi ban đầu Camera Raw được thiết kế để xử lý các tệp thô. Tất cả những gì chúng ta cần làm là nhấp đúp chuột vào hình thu nhỏ của tệp raw trong Bridge:

Kích đúp chuôt vào hình thu nhỏ của tệp thô.

Thao tác này ngay lập tức mở ảnh vào Camera Raw và sẵn sàng cho việc chỉnh sửa. Nhắc lại một lần nữa, vì Camera Raw là một chủ đề khá rộng nên mình sẽ có một bài hướng dẫn riêng về nó:

Tệp raw được mở trong Camera Raw. Nguồn: Steve Patterson.

Chuyển Ảnh Từ Camera Raw Sang PTS

Để chuyển ảnh từ Camera Raw sang PTS, hãy nhấn vào Open Image nằm ở dưới cùng bên phải của hộp thoại Camera Raw. Cách này áp dụng cho cả 3 loại tệp (tệp raw, JPEG, TIFF):

Nhấn vào Open Image để chuyển từ Camera Raw sang PTS.

Đóng Camera Raw Và Quay Lại Bridge

Hoặc nếu bạn đã chỉnh sửa xong bằng Camera Raw và chỉ muốn đóng nó rồi quay lại Adobe Bridge thì hãy nhấn vào Done:

Ấn vào Done ở góc bên phải.

Thao tác này sẽ đóng hộp thoại Camera Raw và đưa bạn quay trở lại Bridge. Đó là tất cả những gì cần làm để mở các tệp raw vào Camera Raw:

Quay trở lại Adobe Bridge.

Cách Mở Tệp JPEG Vào Camera Raw

Mở tệp có định dạng JPEG vào Camera Raw có hơi kém trực quan hơn. Dù nó có hỗ trợ định dạng JPEG nhưng theo mặc định Adobe Bridge lại mở tệp JPEG vào PTS. Chúng ta sẽ nhấp đúp vào hình thu nhỏ của tệp JPEG (“beach.jpg”) ở trong bảng Content:

Nhấn đúp chuột vào hình thu nhỏ của tệp JPEG.

Chúng ta có thể thấy rõ Bridge hoàn toàn bỏ qua Camera Raw và mở ảnh trực tiếp vào PTS:

Ảnh JPEG mở ra trong PTS chứ không phải Camera Raw. Nguồn: Steve Patterson.

Điều này hoàn toàn không phải cái chúng ta cần, thế nên để đóng hình ảnh và quay lại Bridge, di chuột tới menu File chọn Close and Go to Bridge:

File > Close and Go to Bridge.

Cách trên hoàn toàn không sử dụng được ở trường hợp này. Vậy làm thế nào để mở ảnh có định dạng JPEG vào Camera Raw? Dễ thôi! Chúng ta nhấn vào hình thu nhỏ của tệp JPEG để chọn nó (chỉ nhấn chuột một lần) sau đó di chuột đến menu File (góc phía trên màn hình của hộp thoại Bridge) và chọn Open in Camera Raw. Hoặc chúng ta có thể dùng tổ hợp phím tắt:

Windows: Ctrl+R

Macbook: Command+R

File > Open in Camera Raw.

Chúng ta cũng có thể nhấp chuột phải đối với máy Windows (hoặc nhấn nút Control đối với Macbook) vào hình thu nhỏ của tệp JPEG rồi chọn Open in Camera Raw:

Chọn “Open in Camera Raw”

Những cách trên đều có thể giúp mở tệp JPEG trong Camera Raw:

Ảnh có định dạng JPEG đã được mở trong Camera Raw.

Chỉnh Sửa Ảnh JPEG Trong Camera Raw

Trong hộp thoại Camera Raw, mình sẽ thực hiện chỉnh sửa đơn giản cho bức ảnh. Tăng độ bão hòa bằng cách kéo thanh trượt Vibrance (độ rung) sang bên phải (tới giá trị khoảng +40). Sau này bạn sẽ hiểu lý do mình chưa đề cập gì về sâu hơn về Camera Raw:

Kéo thanh trượt Vibrance để tăng độ bão hòa.

Bây giờ nhìn màu sắc bức ảnh đã sống động hơn trước:

Ảnh sau khi đã chỉnh độ bão hòa trong Camera Raw.

Đóng Ảnh JPEG Và Quay Lại Bridge

Nhấn vào Done để tắt hộp thoại Camera Raw và quay về Bridge:

Nhấn vào Done để kết thúc quá trình chỉnh sửa và quay về Bridge.

Biểu Tượng Cài Đặt Camera Raw

Thao tác trên một lần nữa đưa chúng ta quay trở lại Bridge. Nhưng hãy để ý trên góc phải hình thu nhỏ của tệp JPEG có xuất hiện thêm một biểu tượng nhỏ mà trước đây chưa từng có.

Biểu tượng này cho biết chúng ta đã sử dụng Camera Raw để chỉnh ảnh. Trong trường hợp này, vừa nãy mình đã chỉnh một chút ở Vibrance:

Biểu tượng cài đặt Camera Raw hiện lên ở góc phải phía trên của hình thu nhỏ tệp JPEG.

Mở Tệp JPEG Đã Từng Chỉnh Sửa Trong Camera Raw

Vừa rồi, chúng ta có thể thấy rằng nếu nhấp đúp chuột vào hình thu nhỏ tệp JPEG, ảnh sẽ được mở ra trong PTS chứ không phải Camera Raw. Tuy nhiên sau khi chúng ta áp dụng cài đặt Camera Raw cho tệp JPEG, chỉ cần nhấp đúp chuột, ảnh sẽ được mở trong Camera Raw.

Mình sẽ nhấp đúp chuột vào ảnh thu nhỏ như lúc nãy:

Nhấp đúp chuột vào hình thu nhỏ tệp JPEG, lần này ảnh được mở trên Camera Raw.

Và lần này ảnh đã được mở ra trong Camera Raw và bạn có thể tiếp tục chỉnh sửa:

Adobe Bridge tự động mở ảnh trong Camera Raw.

Để đóng ảnh và quay lại Bridge, chúng ta lại nhấn vào Done:

Nhấn Done để quay lại Bridge.

Cách Mở Tệp TIFF Vào Camera Raw

Tương tự như tệp JPEG, Camera Raw có hỗ trợ định dạng TIFF nhưng khi nhấp đúp chuột ảnh vẫn sẽ mặc định mở trong PTS.

Để mở tệp TIFF vào Camera Raw, ta nhấn vào ảnh thu nhỏ của nó. Ở đây là ảnh “horses.tif”

Nhấn vào tệp TIFF trong bảng Content.

Tượng tự như tệp JPEG, di chuột tới menu File rồi chọn Open in Camera Raw. Hoặc nhấp chuột trái (đối với Windows), nhấn Control (trên Macbook) vào chính hình thu nhỏ và chọn Open in Camera Raw.

Một cách nữa có thể áp dụng cho cả 3 loại tệp (raw, JPEG, TIFF) đó là nhấn vào biểu tượng Open in Camera Raw ở ngay phía trên giao diện Bridge:

Nhấn vào biểu tượng “Open in Camera Raw”.

Tất cả các cách trên đều giúp bạn mở ảnh vào Camera Raw:

Adobe Bridge mở tệp TIFF trong Camera Raw. Nguồn: Steve Patterson.

Chỉnh Sửa Ảnh Có Định Dạng TIFF Trong Camera Raw

Bây giờ mình sẽ sử dụng Camera Raw để chỉnh ảnh sang màu đen trắng.

Dọc phía bên phải của hộp thoại Camera Raw là khu vực bảng điều khiển. Bảng điều khiển cơ bản được mở theo mặc định (phần mình đã điều chỉnh Vibrance). Bên cạnh đó cũng có cả những bảng (panel) có sẵn khác. Chúng ta có thể chuyển đổi giữa các bảng bằng cách nhấp vào các tab ngay phía trên tên của bảng hiện đang sử dụng.

Để chuyển ảnh sang màu đen trắng, chúng ta nhấp mở bảng HSL / Grayscale (thứ tư từ trái qua). Sau đó chọn Convert to Grayscale. Cuối cùng nhấp vào Auto để cho phép Camera Raw chuyển ảnh sang màu đen trắng:

Sử dụng HSL / Grayscale để chuyển ảnh sang màu đen trắng.

Dưới đây là kết quả, tuy đây không phải cách đặc biệt gì nhưng ở bài hướng dẫn này chúng ta chỉ cần làm thao tác đơn giản vậy thôi:

Tự động chuyển đổi sang màu đen trắng trong Camera Raw.

Đóng Tệp TIFF Và Quay Trở Lại Bridge

Nhấn vào Done để đóng tệp TIFF trong Camera Raw và quay trở lại Bridge:

Nhấn vào Done để quay lại Adobe Bridge.

Mở Tệp TIFF Đã Từng Được Chỉnh Sửa Bằng Camera Raw

Quay trở lại với Bridge, chúng ta có thể nhận thấy biểu tượng nhỏ ở góc phải phía trên hình thu nhỏ của tệp TIFF giống hệ với tệp JPEG. Biểu tượng này cho biết chúng ta đã từng dùng Camera Raw để chỉnh hình ảnh này.

Lưu ý hình thu nhỏ cũng cập nhập những thay đổi khi chúng ta chỉnh sửa trong Camera Raw. Trong trường hợp này, có thể thấy hình thu nhỏ đã chuyển sang màu đen trắng (Tệp JPEG ở phía trên cũng có cập nhật thay đổi, tuy nhiên thay đổi không quá nhiều nên chúng ta không dễ dàng nhận ra):

Biểu tượng Camera Raw xuất hiện ở phía trên góc phải của hình thu nhỏ TIFF.

Cũng giống như tệp JPEG, tệp TIFF sau khi đã chỉnh sửa qua bằng Camera Raw, lúc mở lại ta chỉ cần nhấp đúp vào hình thu nhỏ, chúng sẽ được tự động mở ra trong Camera Raw.

Mình sẽ nhấp đúp vào hình thu nhỏ “horses.tif” và hiển nhiên nó sẽ được mở ra trong Camera Raw cùng với màu đen trắng mà mình đã chuyển đổi trước đó:

Mở lại tệp TIFF trong Camera Raw.

 

Hướng Dẫn Tạo Tài Liệu Mới Trong Photoshop

0

CÁCH TẠO TÀI LIỆU MỚI TRONG PHOTOSHOP

Hướng dẫn bạn cách tạo tài liệu mới và bắt đầu trải nghiệm tuyệt vời với PTS. Tìm hiểu về hộp thoại New Document, cách tạo kích thước tài liệu tùy chỉnh, lưu lại cài đặt tùy chỉnh dưới dạng preset và còn nhiều hơn thế nữa.

Trước tiên, bạn cần phải update phiên bản mới nhất của PTS và đảm bảo rằng bản sao sẽ luôn được cập nhật.

Lưu ý bài viết này là một phần của hướng dẫn đưa ảnh vào PTS. (nội dung chính của bài viết sau)

Tạo Tài Liệu Mới Và Mở Hình Ảnh Trong PTS

Trước khi bắt đầu, chúng ta cần làm rõ sự khác biệt giữa tạo một tài liệu mới trong PTS và mở một hình ảnh sẵn có trong PTS.

Khi Nào Thì Tạo Một Tài Liệu Mới Trong PTS?

Tạo một tài liệu mới trong PTS tức là bạn tạo một file làm việc mới và trống hoàn toàn. Ở đó chúng ta có thể mở hình ảnh, đồ hoạ hoặc các nội dung khác. Các tài liệu mới này có kích thước phù hợp cho bố cục thiết kế cho web hoặc in ra. Bạn chỉ cần tạo một tài liệu mới với kích thước yêu cầu rồi sau đó thêm và sắp xếp những gì bạn muốn đưa vào đó.

Mở ra tài liệu mới này cũng hoàn toàn phù hợp cho việc vẽ tranh kỹ thuật số bằng bút vẽ của PTS. Khi bạn muốn tùy ý thiết kế bắt đầu từ một cửa sổ làm việc trống, hãy mở ‘‘New Document’’. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu cách làm này.

Khi Nào Thì Mở Một Ảnh Sẵn Có Trong PTS?

Nếu như bạn là một nhiếp ảnh gia, chắc chắn bạn sẽ muốn mở luôn chính bức ảnh mình chụp. Mở ảnh sẵn có khác với tạo tài liệu mới, vì chính hình ảnh sẽ xác định kích thước của tài liệu.

Tạo Tài Liệu Mới Trong PTS Như Thế Nào?

Để tạo tài liệu mới trong PTS, chúng ta dùng hộp thoại Document. Có 2 cách để mở hộp thoại này.

Tạo Tài Liệu Mới Từ Màn Hình Chính

Cách đầu tiên là mở từ màn hình chính của PTS. Theo mặc định, khi chúng ta mở Photoshop CC ra mà không mở hình ảnh, hoặc không có tab document nào đang được mở trong PTS thì lúc ấy PTS sẽ hiển thị “màn hình chính”.

Nội dung trên màn hình chính thay đổi theo thời gian, nhưng nhìn chung bạn sẽ thấy các ô có chứa nội dung khác nhau mà khi nhấp vào có thể học về PTS hoặc tìm hiểu về các tính năng trong phiên bản mới nhất. Và nếu bạn đã làm việc với hình ảnh hay các tài liệu trước đó, bạn sẽ thấy chúng được hiển thị dưới dạng thu nhỏ và chỉ cần một cú nhấp chuột là có thể nhanh chóng mở lại chúng.

Màn hình chính của PTS.

Để tạo một tài liệu mới từ màn hình chính, ấn vào Create New (nằm ở bên trái):

Nhấn vào “Create New” phía bên trái.

Tạo Tài Liệu Mới Từ Thanh Menu

Một cách khác để tạo tài liệu mới, đó là di chuột tới File (nằm trên thanh Menu) rồi chọn New. Hoặc có thể sử dụng tổ hợp Ctrl+N (Windows) / Command+N (Macbook):

Di chuột tới File > New.

Hộp Thoại New Document

Dù bạn dùng cách nào để mở tài liệu mới đi chăng nữa thì kết quả cuối cùng vẫn hiện ra hộp thoại New Document. Thực tế có hai phiên bản của hộp thoại này. Trước tiên chúng ta cùng xem xét phiên bản mặc định (như trong hình) và sau đó mình sẽ chỉ cho các bạn cách chuyển sang phiên bản tuy cũ và nhỏ nhưng lại tốt hơn (theo ý kiến cá nhân của mình):

Hộp thoại New Document mặc định.

Chọn Kích Thước Tài Liệu Được Sử Dụng Gần Đây.

Ngay trên cùng là một hàng các danh mục Recent (gần đây), Saved (đã lưu), Photo (ảnh), Print (in), Art & Illustration (nghệ thuật và minh họa), Web, Mobile (điện thoại) cuối cùng là Film & Video.

Theo mặc định, mục Recent luôn đứng đầu, nó giúp bạn lựa chọn nhanh kích thước tài liệu mà bạn đã sử dụng gần đây. Chỉ cần ấn vào hình thu nhỏ của loại kích thước, sau đó ấn nút Create ở góc dưới cùng bên phải để mở ra tài liệu có kích thước mà bạn muốn dùng. Hoặc đơn giản bạn chỉ cần nhấn đúp chuột vào hình thu nhỏ của kích thước đó.

Trong trường hợp của mình thì tất cả những gì có thể thấy là kích thước mặc định của PTS cùng một số preset được tạo sẵn từ Adobe. Việc sử dụng các mẫu vượt ra ngoài phạm vi của bài hướng dẫn này, vì thế mình sẽ chỉ tập trung vào hướng dẫn cách tạo tài liệu mới:

Mọi kích thước được sử dụng gần đây đều xuất hiện tại Recent.

Chọn Cài Đặt Tài Liệu Mới

Ngoài việc chọn lựa các kích thước đã sử dụng gần đây, bạn có thể chọn những kích thước đã được cài đặt sẵn (hay còn gọi là preset).

Trước hết, chọn tài liệu bạn muốn tạo bằng cách chọn một trng các mục Photo, Print, Web v.v. Ở đây mình chọn Photo:

Chọn danh mục tài liệu.

Các preset sẽ xuất hiện dưới dạng hình thu nhỏ. Ban đầu chỉ có một số preset hiển thị, bạn có thể ấn vào View All Preset để hiện ra nhiều hơn:

Chọn “View All Presets”.

Sử dụng thanh cuộn bên phải để kéo xuống, nếu thấy có kích thước phù hợp với nhu cầu của bạn hãy nhấn vào nó. Ở đây mình chọn “Landscape, 8 x 10”:

Chọn kích thước có sẵn.

Bảng Chi Tiết Cài Đặt Trước (Preset Details)

Thông tin chi tiết của preset trong bảng Preset Details nằm dọc theo bên phải hộp thoại. Sau khi chọn preset “Landscape, 8 x 10”, ta có thể thấy rằng nó sẽ mở ra cửa sổ làm việc với chiều rộng là 10 inch và chiều cao là 8 inch, độ phân giải là 300 pixel/ inch (đây là độ phân giải tiêu chuẩn cho bản in):

Bảng Preset Details trong hộp thoại New Document.

Tạo Tài Liệu Mới

Nếu như hoàn toàn hài lòng với preset này, hãy ấn Create ở gốc dưới bên phải của hộp thoại:

Chọn Create.

Thao tác nào sẽ đóng hộp thoại New Document và mở ra cửa sổ làm việc mới của bạn.

Cửa sổ làm việc mới được tạo.

Làm Thế Nào Để Xác Minh Kích Thước Tài Liệu?

Nếu như bạn muốn kiểm tra lại kích thước của tài liệu, hãy sử dụng hộp thoại Image Size.

Di chuột tới Image nằm ở thanh Menu phía trên màn hình rồi chọn Image Size:

Di chuột đến Image > Image Size.

Hộp Thoại Image Size

Thao tác trên sẽ mở ra hộp thoại Image Size, ở đây chúng ta có thể kiểm tra lại một lần nữa kích thước của tài liệu với chiều rộng 10 inch, chiều cao 8 inch và độ phân giải 300 pixel/inch:

Xác nhận lại cài đặt kích thước bằng hộp thoại Image Size.

Nhấn vào Cancel để đóng hộp thoại Image Size.

Đóng hộp thoại Image Size và không thực hiệc bất kỳ thao tác thay đổi nào.

Đóng Cửa Sổ Làm Việc

Để đóng cửa sổ làm việc, di chuột tới File rồi chọn Close:

Di chuột tới File > Close.

Tạo Tài Liệu Mới Khác

Bởi vì hiện tại không có tài liệu nào đang mở, PTS sẽ đưa các bạn trở về màn hình chính. Mình sẽ mở lại hộp thoại New Document một lần nữa bằng cách ấn vào Create New:

Nhấp vào “Create New” ở màn hình chính.

Hộp thoại New Document sẽ lại mở ra. Tuy nhiên lần này nó sẽ không chỉ hiện lên kích thước mặc định của PTS, mà nó còn hiển thị thêm preset “Landscape, 8 x 10”. Nếu muốn nhanh chóng làm việc với một trong hai kích thước này, chỉ cần nhấp đúp chuột vào nó là xong.

Kích thước tài liệu vừa sử dụng đã xuất hiện ở mục Recent.

Tạo Tài Liệu Mới Từ Cài Đặt Tùy Chỉnh (Custom Settings)

Mặc dù việc sử dụng preset có vẻ khá là hữu ích, nhưng đa phần mọi người vẫn dùng cách tự cài đặt thông số tại Preset Details.

Thiếp Lập Chiều Rộng Và Chiều Cao

Nếu muốn tạo một tài liệu có kích thước 13 x 19 inch, chúng ta cần cài thông số Width = 13 inch và Height = 19 inch. Ở đây mình sử dụng đơn vị inch, tuy nhiên các bạn có chọn các đơn vị đo lường khác như pixel, cm, mm v.v.

Nhập thông số chiều cao, chiều rộng tùy ý.

Xoay Chiều

Để xoay chiều của tài liệu, hãy ấn vào Portrait (xoay dọc) hoặc Landscape (Xoay ngang). Thao tác này sẽ hoán đổi chiều rộng và chiều cao.

Xoay dọc (trái) và xoay ngang (phải).

Cài Đặt Độ Phân Giải In

Bạn có thể tự nhập giá trị độ phân giải tại Resolution. Tuy nhiên hãy nhớ rằng nó chỉ áp dụng cho bản in chứ không hề ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh khi xem online hay trên bất kỳ loại màn hình nào.

Đối với bản in, độ phân giải tiêu chuẩn của nó là 300 pixel/inch. Bạn hoàn toàn có thể bỏ qua giá trị Resolution nếu ảnh chỉ dùng để hiển thị trên màn hình.

Cài đặt độ phân giải (chỉ dùng cho bản in).

Cài Đặt Màu Nền Của Tài Liệu

Màu nền mặc định của cửa sổ làm việc là màu trắng, tuy nhiên bạn có thể đổi sang màu khác với tùy chọn Background Contents. Ban đầu, dường như bạn chỉ có thể lựa chọn giữa White (trắng), Black (đen) và Background Color (màu nền hiện tại):

Các tùy chọn màu nền ban đầu.

Hãy kéo xuống dưới, bạn sẽ thấy có thêm lựa chọn là Transparent (trong suốt) hoặc Custom (tùy chỉnh). Đối với Custom, bạn có thể tùy ý chọn màu từ Photoshop’s Color Picker (bộ chọn màu của PTS). Ấn vào mẫu màu ở bên phải cũng giúp bạn mở ra Color Picker và có thể lựa chọn màu nền theo ý thích tại đây.

Kéo xuống dưới để có nhiều lựa chọn hơn.

Color Mode Và Bit Depth

Bạn có thể thay đổi Color Mode và Bit Depth cho tài liệu của mình. Đa phần bạn chỉ cần dùng theo cài đặt mặc định là RGB Color và 8 bit. Tuy nhiên trong một số trường hợp các bạn cần thay đổi thông số này để phù hợp với bản làm việc.

Color Mode (trái) và Bit Depth (phải).

Tùy Chọn Nâng Cao

Nếu bạn nhấn vào Advanced Options, bạn sẽ thấy có thêm cài đặt Color Profile và Pixel Aspect Ratio. Đừng chỉnh gì cả mà hãy giữ nguyên 2 tùy chọn này ở mặc định.

Tùy chọn nâng cao.

Lưu Lại Cài Đặt Của Bạn Dưới Dạng Một Preset Mới

Nếu sau này bạn vẫn cần dùng đến kích thước tài liệu này để làm việc, hãy nhấn vào nút Create. Nó sẽ được lưu lại dưới dạng một preset tùy chỉnh. Nhấp vào biểu tưởng tải về nằm ở phía trên bảng Preset Details:

Nhấp vào biểu tượng tải về.

Nó sẽ yêu cầu bạn đặt tên cho Preset này. Ở đây mình sẽ đặt là “Landscape, 13 x 19”. Nhấn vào Save Preset để lưu lại:

Đặt tên sau đó nhấn “Save Preset”.

Hộp thoại New Document sau đó sẽ chuyển sang mục Saved. Bạn có thể tìm thấy preset mới của mình cũng như bất kỳ preset nào bạn đã tạo ra trước đó tại mục này. Để sử dụng những preset đã lưu này, bạn chỉ cần vào mục Saved rồi nhấp đúp chuột vào hình thu nhỏ của preset cần dùng.

Preset mới sẽ xuất hiện tại mục Saved.

Làm Thế Nào Để Xóa Preset Đã Lưu?

Khi không cần dùng đến nữa, hãy nhấn vào biểu tượng thùng rác nằm ngay góc bên phải của hình thu nhỏ:

Ấn vào biểu tượng thùng rác để xóa.

Mở Tài Liệu PTS Mới

Sau khi đã lưu lại cài đặt của mình dưới dạng preset. Mình sẽ mở tài liệu mới bằng cách nhấp vào nút Create nằm ở góc dưới cùng phía bên phải:

Nhấn vào Create.

Thao tác này một lần nữa lại đóng hộp thoại New Document và mở ra cửa sổ làm việc mới:

Mở ra cửa sổ làm việc mới với cài đặt tùy chỉnh.

Sử Dụng Hộp Thoại Photoshop’s Legacy New Document

Như mình đã nói bên trên, hộp thoại New Document có đến hai phiên bản. Từ đầu đến giờ chúng ta đang sử dụng phiển bản mới và lớn hơn. Tuy nhiên vẫn còn một phiên bản khác nhỏ hơn, sắp xếp hợp lý hơn (cá nhân mình cũng thích phiên bản này hơn). Adobe gọi phiên bản nhỏ hơn này là “Legacy” New Document. Bởi lẽ nó chính là phiên bản được sử dụng suốt cho tới khi phiên bản mới và lớn hơn kia ra đời.

Để chuyển sang phiên bản cũ.

Đối với Windows: di chuột tới Edit, chọn Preferences sau đó chọn General.

Đối với Macbook: di chuột tới Photoshop CC, chọn Preferences sau đó chọn General.

Edit (Windows) / Photoshop CC ( Macbook) > Preferences > General.

Trong hộp thoại Preferences, chọn Use Legacy “New Document” Interface, sau đó nhấn OK để đóng hộp thoại:

Chọn Use Legacy “New Document” Interface

Sau đó tạo một tài liệu mới bằng cách ấn vào File, chọn New:

File > Menu.

Hộp thoại hiện ra lần này là hộp thoại theo phiên bản cũ, với tất cả các cài đặt giống hệt phiên bản kia nhưng có thiết kế nhỏ gọn, hợp lý hơn. Nếu bạn thích sử dụng phiên bản mới kia hơn, chỉ cần quay lại Preferences và bỏ chọn Use Legacy “New Document” Interface là được:

Phiên bản “legacy” của hộp thoại New Document.

Hướng Dẫn Mở Ảnh Trong Photoshop

0

MỞ ẢNH TRONG PHOTOSHOP

Tìm hiểu các cách mở ảnh trong PTS, cách sử dụng màn hình chính. Phân biệt cách mở khác nhau giữa ảnh có định dạng JPEG và RAW.

Mở hình ảnh trong PTS dường như là một thao tác hết sức cơ bản. Tuy nhiên đối với một chương trình lớn như PTS, nguyên việc mở hình ảnh thôi cũng có rất nhiều cách để thực hiện. Trong các phiên bản gần đây, Adobe đã thêm một màn hình chính giúp chúng ta có thêm nhiều cách hơn để mở hình ảnh. Thế nên, dù bạn đã dùng PTS khá lâu rồi thì vẫn có rất nhiều điều mới đáng để tìm hiểu về PTS.

Hai Cách Để Làm Việc Trong PTS

Có hai cách để bắt đầu làm việc với PTS. Bạn có thể mở một document trống sau đó thêm ảnh, đồ họa hay các nội dung khác vào. Hoặc cách thứ hai là mở luôn một hình ảnh có sẵn. Nếu như bạn là một nhiếp ảnh gia, thì đa phần bạn sẽ muốn bắt đầu luôn trong chính bức ảnh của mình. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về hai cách làm việc này, cũng như xem xét sự khác biệt quan trọng giữa mở một bức ảnh có định dạng tiêu chuẩn JPEG và một bức ảnh chụp ở định dạng RAW.

Để theo sát bài hướng dẫn này, một lần nữa mình muốn nhắc nhở các bạn nên dùng phiên bản mới nhất của PTS và đảm bảo rằng bản sao luôn được cập nhật.

Mở Ảnh Từ Màn Hình Chính Của PTS

Trước tiên, cùng xem xét cách mở ảnh từ màn hình chính (mới được thêm vào gần đây) của PTS. Khi chúng ta mở Photoshop CC ra mà không mở hình ảnh, hoặc khi đã tắt hết các thư mục, không còn thư mục nào đang được mở trong PTS thì lúc ấy PTS sẽ hiển thị “màn hình chính”.

Mở Tệp Gần Đây

Nếu như trước đó bạn đã làm việc với một ảnh hay một tài liệu, nó sẽ được liệt kê trên màn hình chính dưới dạng hình thu nhỏ. Để tiếp tục làm việc với ảnh hay tài liệu đó, bạn chỉ cần nhấp vào hình thu nhỏ của nó là được:

Màn hình chính giúp bạn mở lại các tệp gần đây một cách nhanh chóng.

Mở Ảnh Từ Màn Hình Chính

Tuy nhiên, nếu đây là lần đầu tiên bạn dùng PTS hoặc bạn đã xóa lịch sử làm việc trước đó thì sẽ không xuất hiện tệp gần đây nào cả. Thay vào đó, màn hình chính sẽ trở về trạng thái ban đầu với nhiều ô khác nhau, nơi mà bạn có thể nhấp vào và tìm hiểu thêm về PTS. Nội dung trên màn hình chính của PTS là nội dung động và thường xuyên thay đổi, cho nên những gì bạn nhìn thấy có thể sẽ khác với ảnh minh họa trong bài hướng dẫn này:

Màn hình chính không có hình thu nhỏ của tệp gần đây.

Để mở ảnh từ màn hình chính, nhấp Open nằm ở cột dọc phía bên trái:

Nhấp vào Open ở màn hình chính.

Thao tác nào giúp mở ra tệp Explorer trên windows, trên Macbook là Finder (giống như của mình). Điều hướng đến thư mục chứa hình ảnh của bạn, sau đó bấm đúp vào hình ảnh để mở nó ra. Bây giờ mình sẽ mở ảnh có định dạng JPEG, sau này chúng ta sẽ tìm hiểu về cách mở các tệp có định dạng RAW sau:

Nhấp đúp chuột vào ảnh cần chọn để mở.

Hình ảnh sẽ mở ra và bây giờ bạn có thể bắt đầu công việc chỉnh sửa:

Hình ảnh đầu tiên mở ra trong PTS.

Đóng Ảnh

Để đóng ảnh khi không làm việc nữa, di chuột đến File trên thanh Menu phía trên màn hình, chọn Close:

Di chuột đến File > Close.

Mở Lại Hình Ảnh Từ Màn Hình Chính

Vì không có hình ảnh nào đang được mở, PTS sẽ đưa ta trở về màn hình chính. Ở đây chúng ta sẽ thấy một hình thu nhỏ của hình ảnh vừa mở trước đó. Để mở lại, bạn chỉ cần kích đúp chuột vào hình thu nhỏ đó:

Kích vào hình thu nhỏ ở màn hình chính.

Và bức ảnh lại hiện ra:

Bức ảnh lúc trước đã được mở lại.

Cách Mở Thêm Ảnh Thứ Hai Từ Màn Hình Chính

Nếu bạn đang mở sẵn một ảnh, và rồi muốn mở thêm ảnh thứ hai thì sao? Bạn hoàn toàn có thể làm điều này từ màn hình chính. Chúng ta có thể quay lại màn hình chính bất cứ lúc nào bằng cách nhấn vào nút Home ở phía bên trái của giao diện:

Nhấn vào nút Home để quay lại màn hình chính.

Sau khi đã quay trở lại màn hình chính, tiếp tục nhấn vào Open:

Nhấn vào Open để mở thêm ảnh khác.

Điều hướng đến thư mục hình ành và nhấn đúp vào ảnh bạn cần mở:

Chọn thêm ảnh cần mở.

Ảnh đã được mở trong PTS:

Ảnh thứ hai đã được mở trong PTS.

Cách Chuyển Đổi Giữa Các Ảnh Đang Mở

Để chuyển đổi giữa các ảnh đang mở, hãy nhấn vào các tab document song song phía bên trên các bức ảnh đang mở:

Sử dụng các tab để chuyển đổi giữa các hình ảnh.

Phải Làm Gì Nếu Thiếu Nút Home?

Nếu bạn sử dụng Photoshop CC 2019 hay các bản cũ hơn có thể sẽ bị thiếu nút Home. Hãy mở Preferences để chắc chắn rằng màn hình chính không bị tắt.

Đối với Windows: Di chuột tới Edit > Preferences > General

Đối với Macbook: Di chuột tới Photoshop CC > Preferences > General

Mở General.

Trong hộp thoại Preferences, hãy nhìn xem tùy chọn Disable the Home Screen đã tắt chưa. Nếu nó đang được chọn, hãy bỏ chọn đi. Sau đó nhấn OK để đóng hộp thoại. Lưu ý, cần đóng PTS và khởi động lại thì thay đổi mới có hiệu lực:

Đảm bảo rằng tùy chọn Disable the Home Screen đã tắt.

Mở Ảnh Bằng Cách Nhấn Vào Menu File

Tuy mở hình ảnh từ màn hình chính là cách khá ổn và mình luôn dùng cách này. Nhưng có một cách truyền thống hơn đó là mở ảnh bằng cách nhấn vào menu File (nằm trên thanh Menu) sau đó chọn Open. Hoặc bạn có thể dùng phím tắt Ctrl+O (Windows), Command+O (Macbook). ‘‘O’’ ở đây là viết tắt của Open.

Nhấp File > Open.

Thao tác này lại mở ra File Explorer trên Windows (đối với Macbook là Finder). Mình sẽ nhấp đúp vào hình ảnh thứ ba:

Chọn ảnh thứ ba.

Ảnh thứ ba được mở ra trên PTS, tương tự như hai ảnh trước.

Ảnh thứ ba được mở ra trên PTS.

Chúng ta có thể nhìn thấy trên tab document chạy song song phía trên có 3 ảnh hiện đang mở. PTS chỉ cho phép chúng ta làm việc với một ảnh tại một thời điểm, tuy nhiên chúng ta có thể thỏa sức mở bao nhiêu ảnh cũng được. Để chuyển đổi giữa các ảnh, chỉ cần nhấp vào phần tab document bên trên.

Chuyển đổi giữa các hình ảnh đang mở bằng cách nhấn vào các tab.

Cách Đóng Ảnh Trong PTS

Để đóng một hình ảnh mà ko ảnh hưởng tới bất kỳ ảnh nào khác đang mở, hãy nhấn vào tab để chọn hình ảnh bọn muốn đóng, sau đó di chuột tới File rồi chọn Close:

Di chuột tới File > Close.

Hoặc cách nhanh nhất chính là nhấn vào dấu ảnh nhỏ nằm trong chính tab đó:

Nhấn vào x để đóng riêng mình ảnh đó.

Để đóng tất cả hình ảnh đang mở cùng lúc, di chuột đến File chọn Close All. Thao tác này sẽ đóng tất cả ảnh đang mở và đưa bạn trở về màn hình chính:

Di chuột tới File > Close All.

Cách Mở Tệp RAW trong PTS

Từ đầu tới giờ tất cả hình ảnh mình sử dụng đều có định dạng JPEG. Như chúng ta đã biết, JPEG là những tệp có đuôi “.jpg”. Vậy còn các tệp RAW thì sao? Đó chính là những hình ảnh được chụp bằng định dạng raw (định dạng thô) của máy ảnh.

Để mở tệp RAW từ màn hình chính, hãy nhấp vào Open:

Nhấn vào Open để mở tệp RAW.

Sau đó chọn tệp raw mà bạn muốn mở. Mỗi hãng máy ảnh lại có một định dạng ảnh raw bằng 3 chữ cái riêng.

Ví dụ: Canon là “.cr2”, Nikon là “.nef” và Fuji là “.raf” v.v.

Như của mình là đuôi “.dng (viết tắt của Digital Negative) đây là định dạng raw của riêng Adobe:

Lựa chọn ảnh Raw để mở trong PTS.

Plugin Camera Raw Của PTS

Thay vì mở trực tiếp như các tệp JPEG, các tệp RAW sẽ được mở trong một plugin PTS được gọi là Camera Raw. Nó thường được coi là phòng tối kỹ thuật số bởi nó được sử dụng để xử lý ảnh RAW (hiệu chỉnh độ phơi sáng và màu sắc, thêm một số độ sắc nét ban đầu v.v.) trước khi mở ảnh ra trong PTS.

Nếu như bạn đã sử dụng thành thạo Adobe Lightroom, bạn cũng sẽ sử dụng Camera Raw một cách dễ dàng bởi cả hai đều chia sẻ cùng một công cụ xử lý hình ảnh và có các tùy chọn chỉnh sửa ảnh giống nhau:

Ảnh được chụp dưới dạng tệp thô mở ra trong Camera Raw.

Đóng Camera Raw Và Không Cần Mở Ảnh Trong PTS.

Camera Raw cung cấp rất nhiều điều chỉnh ảnh, vì vậy đôi khi bạn có thể hoàn thành công việc ngay trong chính Camera Raw mà không cần mở ra trong PTS. Sau này mình sẽ hướng dẫn các bạn chi tiết về cách chỉnh ảnh bằng Camera Raw trong một bài khác.

Còn bây giờ, nếu như bạn cảm thấy hài lòng và chỉ muốn đóng Camera mà không cần mở ra trong PTS. Hãy nhấn vào Done. Tất cả cài đặt Camera Raw của bạn sẽ được lưu cùng tệp RAW và sẽ xuất hiện vào lần tiếp theo bạn mở nó:

Nhấn vào Done để xác nhận và đóng Camera Raw.

Làm Thế Nào Để Chuyển Ảnh Từ Camera Raw Sang PTS

Nếu cần chỉnh thêm ảnh bằng PTS, bạn có thể đóng Camera Raw và mở ảnh ra trong PTS bằng cách nhấn vào Open Image:

Nhấn vào Open Image để mở trong PTS.

Ảnh sẽ được mở ra trong PTS mà vẫn giữ nguyễn những gì bạn đã chỉnh sửa bằng Camera Raw trước đó:

Ảnh chuyển từ Camera Raw sang PTS.

Đóng Ảnh

Để đóng ảnh sau khi đã hoàn thành công việc, di chuột tới File, chọn Close:

Di chuột tới File > Close.

Một lần nữa PTS lại đưa bạn về màn hình chính, nơi chúng ta có thể nhìn thấy toàn bộ hình thu nhỏ của các file làm việc gần đây và bạn hoàn toàn có thể mở lại khi cần thiết:

Quay trở lại màn hình chính.

Theo photoshopessentials.com.

Hướng Dẫn Cài Đặt Lại Các Tùy Chọn Trong Photoshop

0

Nguyên nhân phổ biến nhất về các vấn đề về hiệu suất đột ngột với PTS là do tệp Preferences bị hỏng. Cùng tìm hiểu cách xóa và đặt lại nó về mặc định. Cũng như tìm hiểu về cách khôi phục tùy chọn trong Photoshop CC và các phiên bản cũ hơn.

Bản sao PTS có vấn đề? Bảng điều khiển hay menu biến mất? Công cụ hoạt động sai? Có thể đó là do tệp tùy chọn (Preferences) có vấn đề. Tức là tệp Preferences đã bị hỏng và thông tin trong đó đã bị lỗi.
Preferences là nơi PTS lưu trữ nhiều cài đặt hiệu suất. Bao gồm cài đặt hiển thị và giao diện chung, cài đặt công cụ, tùy chọn xử lý và lưu tệp, cài đặt loại, cài đặt scratch disk, tùy chọn plugin v.v. Chúng ta đã tìm hiểu một số tùy chọn quan trọng này trong bài hướng dẫn trước. Mỗi khi tắt PTS, tệp Preferences sẽ được ghi lại. Thật không may, trong mỗi lần ghi lại đó có thể sẽ xảy ra lỗi. Nếu điều không may này xảy ra với Preferences, PTS sẽ bắt đầu hành động.

Nhưng có một cách dễ dàng để đặt lại các tùy chọn của PTS về mặc định. Trên thực tế, kể từ bản Photoshop CC 2015, đã có đến tận 2 cách để làm điều này. Chúng ta sẽ bắt đầu với cách đầu tiên phù hợp với tất cả các phiên bản của PTS. Sau đó, nếu cách này vẫn được cho là hơi rắc rối, thì chúng ta sẽ cùng xem xét một cách dễ dàng hơn nữa bằng việc sử dụng một tùy chọn hoàn toàn mới trong Photoshop CC (Creative Cloud).

Cảnh Báo!
Trước khi bắt đầu, hãy lưu ý rằng việc đặt lại tùy chọn sẽ cài đặt lại nhiều thứ hơn bạn nghĩ. Bạn sẽ phải đặt lại cài đặt màu cũng như mọi phím tắt hay không gian làm việc. Nếu muốn giữ nguyên các mục này, hãy đảm bảo rằng bạn đã lưu lại (sử dụng hộp thoại tương ứng) trước khi tiếp tục.

Cách Cài Lại Tùy Chọn PTS (Dành Cho Tất Cả Các Phiên Bản)
Bước 1: Quit Photoshop
Hãy bắt đầu với cách cài lại tùy chọn phù hợp với tất cả các phiên bản PTS. Trước tiên, nhấn vào Quit Photoshop. Trên máy tính, di chuột tới File trong thanh Menu phía trên trên màn hình, sau đó chọn Exit. Đối với Macbook, di chuột tới Photoshop trên thanh Menu rồi chọn Quit Photoshop:

File > Exit (Windows) / Photoshop > Quit Photoshop (Macbook).

Bước 2: Khởi Chạy Lại PTS Bằng Phím Tắt.
Khi PTS đã đóng, nhấn giữ Shift + Ctrl + Alt (đối với Windows) hoặc Shift + Command + Option (đối với Macbook) và khởi chạy lại PTS như mọi khi bạn vẫn hay làm.

Bước 3: Xóa Tệp Tùy Chọn PTS.
Ngay trước khi PTS mở ra, sẽ có một thông báo nảy lên hỏi xem bạn có muốn xóa tệp Adobe Photoshop Settings hay không. Hãy chọn ‘‘Yes’’. PTS sẽ mở ra với tất cả các tùy chọn đã được khôi phục về mặc địch.

Chọn ‘‘Yes’’ khi được hỏi có muốn xóa tệp Settings hay không.

Đặt Lại Tùy Chọn PTS Trong Photoshop CC
Tiếp theo, chúng ta hãy tìm hiểu cách thiết lập lại các tùy chọn của PTS bằng cách khác trong Photoshop CC. Tất nhiên bạn cần phải sử dụng Photoshop CC để làm điều này và hãy đảm bảo rằng bản sao sẽ luôn được cập nhật.

-Bước 1: Mở Hộp Thoại Preferences
Trong Photoshop CC, Adobe đã thêm một tùy chọn mới để cài đặt lại các tùy chọn. Chức năng này nằm trong hộp thoại Preferences. Để mở hộp thoại, bạn di chuột đến Edit ở phía trên màn hình, chọn Preferences sau đó chọn General (đối với Windows). Hoặc di chuột đến Photoshop CC trên thanh menu, chọn Preferences, sau đó chọn General (đối với Macbook):

Edit > Preferences > General ( Windows) / Photoshop CC > Preferences > General (Macbook).

-Bước 2: Chọn “Reset Preferences On Quit”
Thao tác này mở ra tùy chọn General trong hộp thoại Preferences. Tại đây, bạn sẽ nhìn thấy tùy chọn “Reset Preferences On Quit”. Nhấp vào đó để ấn chọn:

Nhấp vào “Reset Preferences On Quit”.

-Bước 3: Chọn “Yes” Để Xóa Các Tùy Chọn Khi Thoát.
Bạn sẽ được hỏi liệu có thực sự muốn đặt lại các tùy chọn khi thoát khỏi PTS. Hãy chọn OK:

Xác nhận chắc chắn muốn đặt lại tùy chọn.

-Bước 4: Đóng Và Khởi Chạy lại PTS
Đối với Windows: File > Exit. Đối với Macbook: Photoshop > Quit Photoshop CC. Và giờ khi bạn mở Photoshop CC lên, nó sẽ khởi chạy với các tùy chọn đã được khôi phục về mặc định.

Trên đây là cách để đặt lại tệp Preferences và khôi phục cài đặt về mặc định, bao gồm cả việc xem qua tùy chọn Reset Preferences On Quit mới có trong Photoshop CC.

Tùy Chọn Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu Với Photoshop

0
Color Theme mặc định trong photoshop cơ bản.

Trong bài viết này chúng ta cùng tìm hiểu cách cải thiện hiệu suất của Photoshop, tùy chỉnh giao diện, lưu lại bản sao lưu công việc và các tùy chọn quan trọng cần nắm rõ trong Photoshop Preferences (Cả trong Photoshop CC và Photoshop CS6).

Chúng ta cùng tìm hiểu về một số Preferences cần thiết trong PTS mà người mới làm quen với PTS cần nắm được. Preferences là nơi chứa toàn bộ các loại tùy chọn về kiểm soát giao diện, hành vi và hiệu suất của PTS. Thực tế có nhiều tùy chọn trong Preferences hơn những gì mình giới thiệu ở bài viết này, tuy nhiên đa số cài đặt mặc định đều ổn. Chúng ta sẽ cùng xem xét các tùy chọn đáng để quan tâm khi bắt đầu học PTS. Một số tùy chọn cho phép bạn tùy chỉnh giao diện, một số thì khác thì giúp tăng tốc quá trình làm việc và có những tùy chọn giúp cho máy của bạn hoạt động trơn tru. Ngoài ra còn một số tùy chọn khác, nhưng mình sẽ nhắc đến ở các bài học sau này khi cần thiết.

Mình sẽ sử dụng Photoshop CC trong bài hướng dẫn này, tuy nhiên các bạn dùng Photoshop CS6 vẫn có thể theo dõi dễ dàng vì nó không khác nhau đâu. Chỉ có đúng một tùy chọn là có sự khác nhau giữa hai phiên bản, còn lại tất cả các tùy chọn đều giống nhau. Như đã nói từ trước, Preferences được chia thành nhiều loại. Trong một số trường hợp, tùy thuộc vào phiên bản PTS bạn đang sử dụng, tùy chọn có thể sẽ nằm trong một danh mục khác. Mình sẽ chỉ ra những điểm khác biệt này ở phía dưới.

Cách Truy Cập Vào Photoshop Preferences:
Như mình đã nói, Preferences được chia thành rất nhiều mục. Trước tiên hãy bắt đầu với General. Để truy cập vào Preferences trên máy tính Windows, bạn di chuột đến mục Edit nằm ở thanh Menu phía trên màn hình. Từ đây, chọn Preferences ở gần cuối danh sách, sau đó chọn General. Đối với Macbook, chỉ chuột đến mục Photoshop ở thanh Menu, chọn Preferences, sau đó chọn General:

Edit (Windows) / Photoshop (Mac) > Preferences > General

Hộp Thoại Tùy Chọn Preferences:

Thao tác này sẽ mở hộp thoại Preferences. Các danh mục chúng ta có thể lựa chọn được liệt kê trong cột nằm phía bên trái. Còn các tùy chọn cho danh mục đó sẽ hiện ở giữa. Ảnh bên dưới đang hiển thị tùy chọn của mục General. Lưu ý, trong Photoshop CC, Adobe đã thêm một số danh mục mới vào Preferences như Workspace, Tools và History Log. Mặc dù nó chỉ có sẵn trong Photoshop CC, chúng ta vẫn có thế tìm thấy các tùy chọn này trong CS6.

Hộp thoại Preferences trong Photoshop.

General Preferences
Export Clipboard
Trong General, đầu tiên chúng ta nhìn vào Export Clipboard. Tùy chọn này có thể ảnh hưởng đến hiệu suất tổng thể của máy tính. Khi chúng ta Copy và Paste ảnh trong PTS, các mục được sao chép sẽ được đặt vào trong clipboard. Clipboard chính là một phần của bộ nhớ máy tính (RAM) được dành riêng cho PTS sử dụng. Hệ điều hành máy tính cũng có clipboard của riêng nó (phần bộ nhớ riêng).

Khi “Export Clipboard” bật lên, tất cả các mục được lưu trữ trong clipboard của PTS cũng được xuất sang clipboard của hệ điều hành. Nó cho phép bạn dán các mục đã sao chép vào một ứng dụng khác sau đó, ví dụ như Adobe Illustrator hay InDesign. Tuy nhiên dung lượng files của PTS có thể rất lớn. Việc xuất các tệp có dung lượng lớn vào bộ nhớ hệ điều hành có thể gây ra các lỗi và các vấn đề về hiệu suất cho máy tính.
Theo mặc định “Export Clipboard” được chọn sẵn để giúp máy của bạn chạy mượt hơn. Hãy bỏ chọn mục này. Nếu như cần di chuyển tệp từ PTS sang một ứng dụng khác, bạn chỉ cần lưu tệp trong PTS rồi mở tệp đã lưu này trong ứng dụng đó.

Bỏ chọn “Export Clipboard” để cải thiện hiệu suất.

Interface Preferences (Tùy Chọn Giao Diện)
Tiếp đến chúng ta cùng xem xét một vài tùy chọn cho phép tùy chỉnh giao diện của PTS. Hãy nhấp chuột vào mục Interface nằm ở phía bên trái.

Chuyển từ General sang Interface.

Color Theme (Chủ Đề Màu)
Đầu tiên là Color Theme (Chủ đề màu). Nó kiểm soát màu tổng thể của giao diện PTS. Trong trường hợp này “Color” có ý chỉ các sắc thái khác nhau của màu xám. Adobe cung cấp bốn chủ đề màu sắc khác nhau để chúng ta lựa chọn. Mỗi chủ đề được thể hiện bằng một mẫu. Trong đó, mẫu màu thứ hai bên trái được chọn làm mặc định.

Các mẫu Color Theme.

Adobe đã bắt đầu sử dụng theme màu tối hơn này trong PTS CS6 và PTS CC. Trước phiên bản CS6, giao diện có màu sáng hơn nhiều.

Color Theme mặc định trong photoshop

Để chọn một chủ đề màu khác, hãy nhấp vào mẫu của nó. Có 4 chủ đề màu để lựa chọn thứ tự từ tối đến sáng dần. Mình sẽ chọn cái sáng nhất. Lưu ý, chủ đề màu cũng ảnh hưởng tới màu của hộp thoại PTS.

Chọn màu sáng nhất.

Giờ đây giao diện của PTS đã sáng sủa hơn rất nhiều. Adobe thiết kế màu tối hơn với mục đích khiến cho nó ít ảnh hưởng đến sự tập trung của chúng ta. Cá nhân mình đồng ý với điều này và luôn dùng chủ đề mặc định của PTS. Tuy nhiên cũng có một số người thích dùng giao diện sáng hơn. Lựa chọn tùy vào sở thích của bạn để cảm thấy thoải mái nhất và bạn cũng có thể thay đổi chủ đề màu bất cứ khi nào bạn muốn.

Highlight Color (Photoshop CC) (Màu Nổi Bật)
Trong Photoshop CC, Adobe đã thêm tùy chọn Highlight Color vào Interface Preferences. Đây là tùy chọn không có sẵn trên CS6. “Highlight Color” chính là màu mà PTS sử dụng để làm nổi bật layer đang được chọn trong bảng các Layer.

Highlight Color trong Interface Preferences.

Màu đánh dấu được mặc định là màu xám, phù hợp với chủ đề màu tổng thể. Chúng ta có thể thấy bảng điều khiển PTS Layers với lớp nền màu xám như ảnh dưới đây. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các layer trong PTS Layers:

Hoặc bạn có thể đổi sang màu xanh dương (blue):

UI Font Size (Kích Thước Font Chữ)

Một tùy chọn khác đáng được quan tâm trong Interface Preferences chính là UI Font Size. Tùy chọn này có sẵn trong cả PTS CC và CS6. “UI Font Size” kiểm soát kích thước chữ trong giao diện PTS. “UI” là viết tắt của “User Interface”. Ở phần này, Adobe cài đặt mặc định là Small.

Tùy chọn trong UI Font Size.

Nếu như bạn gặp khó khăn khi nhìn chữ quá nhỏ, hãy tăng kích cỡ của nó lên. Đổi tùy chọn thành Medium hoặc Large. Ngoài ra còn một tùy chọn nữa là Tiny, hãy dùng nó khi mà bạn muốn hành hạ đôi mắt của chính mình. Bản thân mình thích cài ở chế độ Large để mắt đỡ bị mỏi khi phải sử dụng máy tính trong một khoảng thời gian dài.

Thay đổi kích cỡ từ Small sang Large trong UI Font Size.

Tools (Tùy Chọn Công Cụ) (Photoshop CC)
Nếu bạn sử dụng Photoshop CC, hãy ấn vào Tools ở bên trái để mở các tùy chọn liên quan đến công cụ PTS. Phần này mới được thêm vào trong Photoshop CC.

Chuyển từ Interface sang Tools.

Ví dụ, khi bạn di chuột qua tùy chọn “Show Tool Tips”, mẹo công cụ sẽ xuất hiện dòng màu vàng giải thích rằng tùy chọn này nhằm xác định có hiển thị mẹo công cụ hay không.

Tool Tips rất hữu ích để tìm hiểu về các tùy chọn khác nhau trong PTS.

Chúng ta có thể thấy rằng, khi mình di chuột qua biểu tượng công cụ trong thanh công cụ của PTS, mẹo công cụ sẽ cho biết mình đang chọn công cụ nào:

Mẹo công cụ giúp tìm hiểu các công cụ dễ dàng hơn.

Mẹo công cụ giúp tìm hiểu các công cụ dễ dàng hơn.

Tool Tips được chọn theo mặc định. Nếu bạn còn bỡ ngỡ với PTS thì nó chính là cách hữu ích để bạn dễ dàng làm quen với nó. Nhưng khi bạn đã thành thạo rồi thì mẹo công cụ sẽ dần trở nên thừa thãi và gây cản trở cho quá trình làm việc của bạn. Nếu như cảm thấy không cần thiết phải dùng đến nó nữa thì chỉ cần bỏ chọn “Show Tool Tips” trong Preferences.

Use Shift Key for Tool Switch (Sử Dụng Phím Shift Để Chuyển Đổi Công Cụ)
Một tùy chọn khác trong mục Tools của Photoshop CC là Use Key for Tool Switch. Đối với CS6, bạn có thể tìm thấy nó ở mục General. Tùy chọn này liên quan đến việc chọn các công cụ khi sử dụng phím tắt. “Use Shift Key for Tool Switch” được bật theo mặc định:

Tùy chọn “Use Shift Key for Tool Switch”

Tất cả các công cụ của PTS đều hiển thị trong thanh công cụ phía bên trái. Adobe gộp các công cụ có liên quan với nhau thành một nhóm để tiết kiệm dung lượng. Ví dụ: nếu nhấp và giữ công cụ Lasso, một menu sẽ hiện ra bao gồm Lasso Tool, Polygonal Lasso Tool và Magnetic Lasso Tool. Cả ba công cụ này đều dùng chung một phím tắt (chữ ‘L’):

Một số công cụ dùng chung phím tắt, ví dụ như Lasso.

Khi “Use Shift Key for Tool Switch” được bật, chỉ cần ấn phím ‘‘L’’ thì công cụ Lasso sẽ tự động được chọn. Nhưng nếu chỉ ấn “L” không thì dù ấn bao nhiêu lần cũng chỉ mặc định chọn Lasso Tool. Để chuyển sang Polygonal Lasso Tool hay Magnetic Lasso Tool bạn cần đồng thời nhấn giữ phím ‘‘Shift’’ và phím ‘’L”. Tất cả các công cụ dùng chung phím tắt đều thực hiện tương tự. Để tiết kiệm thời gian và tránh phải nhấn giữ phím ‘‘Shift’’, hãy bỏ chọn “Use Shift Key for Tool Switch”. Khi tắt tùy chọn này, bạn chỉ cần nhấn thẳng vào chính ký tự của công cụ để lựa chọn khi làm việc.

File Handling Preferences (Tùy Chọn Xử Lý Tệp)
Tiếp theo, cùng chuyển qua tùy chọn “File Handing” nằm ở phía bên trái.

Mở giao diện File Handling.

Auto Save (Tự Động Lưu)
CS6 là nền tảng đầu tiên ra mắt tùy chọn Auto Save. Tùy chọn này nhằm tự động lưu bản sao công việc của bạn theo định kỳ. Theo kinh nghiệm của mình, Auto Save đã giúp lưu lại quá trình làm việc của mình trong một số trường hợp không may chưa kịp nhấn lưu lại (bạn hiểu mà), đặc biệt là trên máy tính cũ của mình.
Auto Save được cài mặc định sao lưu cứ mỗi 10 phút/lần. Điều này khá ổn. Nhưng tùy thuộc vào tốc độ làm việc của bạn cũng như máy tính, bạn có thể rút ngắn khoảng thời gian tự động này xuống 5 phút. Hoặc là bạn có thể chỉnh cho thời gian mỗi lần sao lưu kéo dài hơn nếu như nó gây ra các vấn đề về hiệu suất. Nhưng như thế dễ tăng nguy cơ mất dữ liệu làm việc mà bạn chưa kịp lưu nếu như máy gặp trục trặc.

Auto Save được cài mặc định 10 phút sao lưu một lần.

Recent File List Contains (Danh Sách Tệp Gần Nhất)
Một tùy chọn quan trong khác trong File Handing là Recent File List Containts. Tùy chọn này xác định số tệp bạn đã mở trước đó. Trong Photoshop CC, các tệp gần đây của bạn xuất hiện dưới dạng một hình thu nhỏ trên màn hình mỗi khi bạn khởi chạy chương trình PTS. Trong CS6, bạn có thể truy cập các tệp gần đây của mình bằng cách đi tới mục File trong thanh Menu và chọn Open Recent (Photoshop CC cũng tương tự).
PTS mặc định lưu lại 20 file làm việc gần nhất. Bạn có thể chỉnh lên thành 100 file, hoặc nếu không muốn cho ai nhìn công việc của mình thì có thể chỉnh về 0:

Tùy chọn “Recent File List Contains”.

Performance Preferences (Tùy Chọn Hiệu Suất)
Tiếp đến chúng ta cùng xem xét một số cài đặt liên quan đến hiệu suất. Chọn “Performance” nằm ở phía bên trái:

Mở tùy chọn hiệu suất.

Memory Usage (Sử Dụng Bộ Nhớ)
Tùy chọn Memory Usage nằm trong mục Performance có tác dụng kiểm soát bộ nhớ máy tính của bạn dành cho PTS. PTS sẽ làm việc tốt hơn khi dung lượng bộ nhớ cao. Theo mặc định, Adobe dành 70% dung lượng bộ nhớ máy tính cho PTS. Nếu PTS gặp khó khăn khi bạn làm việc với các file có dung lượng lớn, hãy thử tăng giá trị sử dụng bộ nhớ.
Bạn có thể tăng mức sử dụng bộ nhớ lên 100%. Nhưng hãy nhớ rằng nếu bạn mở song song các ứng dụng khác, thì các ứng dụng ấy đều yêu cầu bộ nhớ. Hãy đóng tất cả các ứng dụng không liên quan khi bạn đang làm việc với PTS, nếu như bạn cần mở một ứng dụng khác, hãy đảm bảo không tăng giá trị sử dụng bộ nhớ lên quá 90%. Nếu gặp sự cố hãy hạ nó xuống và bạn cần khởi động lại PTS để thay đổi có hiệu lực:

Tùy chọn “Memory Usage”.

History States (Trạng Thái Lịch Sử)
Một tùy chọn khác ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của PTS là History States. Nó đề cập đến số lượng các bước mà PTS theo dõi khi chúng ta làm việc. Càng nhiều bước được ghi nhớ thì chúng ta càng có thể hoàn tác nhiều bước để quay lại trạng thái trước đó hơn. Trạng thái lịch sử được lưu trong bộ nhớ, vì thế nếu lưu quá nhiều trạng thái thì sẽ ảnh hưởng đến tốc độ của PTS.
Trong CS6, trạng thái lịch sử được cài mặc định là 20. Mình khuyên các bạn nên tăng nó lên 30. Còn trong Photoshop CC, Adobe đã nâng lên hẳn 50 ở mức mặc định, nên các bạn không cần tăng thêm làm gì cả, trừ khi bạn thực sự cần nhiều hoàn tác đến mức đó. Nếu như gặp sự cố về hiệu suất, hãy thử giảm giá trị này đi. Và tất nhiên, bạn cần khởi động lại PTS để thay đổi có hiệu lực:

Tùy chọn “History States”.

Scratch Disks Preferences (Photoshop CC)
Có một tùy chọn về hiệu suất mà chúng ta cần xem xét, đó là Scratch Disks Preferences. Trong Photoshop CC, chọn Scratch Disks phía bên trái, còn trong CS6 nó nằm ở mục Performance:

Chọn “Scratch Disks” trong Photoshop CC.

Scratch Disks
Scratch Disks là một phần trong ổ cứng của bạn được PTS sử dụng làm bộ nhớ bổ sung trong trường hợp hết bộ nhớ hệ thống. Chỉ cần bộ nhớ máy tính vẫn đủ dùng thì PTS sẽ không cần sử dụng đến Scratch Disks. Nếu như cần dùng đến, nó sẽ sử dụng ổ cứng bạn đã chọn trong tùy chọn Scratch Disks.
Ổ cứng chính trong máy của bạn được gọi là ổ Startup disk. Đây có thể là ổ cứng duy nhất mà bạn có. Như thế thì bạn không cần phải cài đặt gì cả. Nhưng nếu bạn có hai hay nhiều ổ cứng thì hãy chọn ổ cứng khác chứ không phải ổ Starup disk. Hệ điều hành sử dụng Startup disk rất nhiều, vì thế hiệu suất của PTS sẽ tốt hơn nếu sử dụng một ổ đĩa khác. Ngoài ra, nếu bạn biết được tốc độ của ổ cứng thì bạn sẽ có được hiệu suất tốt hơn nữa bằng cách chọn ổ đĩa có tốc độ xử lý nhanh nhất.

Sử dụng SSD Để Có Hiệu Suất Tốt Nhất
Nếu như máy tính của bạn có ổ SSD, hãy chọn nó làm scratch disk. SSD nhanh hơn nhiều so với ổ cứng truyền thống và có thể cải thiện hiệu suất đáng kể. Kể cả khi SSD là Startup disk thì nó vẫn là lựa chọn tốt nhất.

Chọn ổ đĩa bạn muốn PTS sử dụng trong trường hợp hết bộ nhớ hệ thống.

Đóng Hộp Thoại Preferences
Nhấn vào OK để lưu lại các thay đổi của bạn. Hãy nhớ rằng một số thay đổi chỉ có hiệu lực sau khi khởi động lại PTS:

Nhấn OK để đóng hộp thoại Preferences.

Vậy là mình đã giới thiệu xong về các tùy chỉnh trong Preferences, tuy rằng biết cách tùy chỉnh là điều quan trọng nhưng bạn cũng cần biết cách khôi phục chúng về mặc định. Nguyên nhân phổ biến nhất về các vấn đề về hiệu suất đột ngột với PTS là do tệp Preferences có vấn đề. Trong bài học tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu về cách khắc phục sự cố PTS bằng cách cài đặt lại Preferences.

Bài Viết Ngâu Nhiên