Tìm Hiểu Về RECTANGULAR MARQUEE TOOL Trong Photoshop

0

RECTANGULAR MARQUEE TOOL

Lưu ý nhỏ: bài hướng dẫn này ban đầu được viết cho phiên bản Photoshop CS4, tuy nhiên nó hoàn toàn tương thích với Photoshop CS6 và Photoshop CC.

Trong bài hướng dẫn trước, chúng ta đã xem xét lý do tại sao cần thực hiện các lựa chọn trong PTS. Và chúng ta cũng hiểu được rằng mọi thứ qua góc nhìn của PTS rất khác so với cách mà chúng ta dùng mắt để nhìn. Khi con người nhìn thấy những đối tượng độc lập thì PTS chỉ nhìn thấy các pixel với màu sắc khác nhau, vì vậy người dùng cần sử dụng các công cụ lựa chọn khác nhau để chọn các đối tượng hay khu vực trong ảnh mà PTS sẽ không bao giờ tự xác định được.

Như mình đã nói thì PTS cung cấp cho người dùng rất nhiều công cụ khác nhau để chọn mọi thứ trong hình ảnh, có một số cái cơ bản và một số cái nâng cao. Trong bài hướng dẫn này, chúng ta sẽ cùng xem xét một trong những công cụ phổ biến và dễ sử dụng nhất. Đó chính là Rectangular Marquee Tool. Nó cùng với Elliptical Marquee Tool và Polygonal Lasso Tool là những công cụ cơ bản của PTS, được thiết kế tạo vùng chọn dựa trên các hình dạng hình học đơn giản. Như đúng cái tên của nó, Rectangular Marquee Tool là lựa chọn hoàn hảo khi người dùng cần vẽ vùng chọn có dạng hình chữ nhật hay hình vuông.

Rectangular Marquee Tool nằm ngay trên cùng của Toolbar. Nó là biểu công cụ có biểu tượng giống như đường viền của một hình vuông. Hãy nhấp vào để chọn nó:

Rectangular Marquee Tool.

Nếu như bạn đang sử dụng Photoshop CS4 hay CS3 thì bố cục của Toolbar sẽ được đặt thành bố cục một cột duy nhất, khi đó Rectangular Marquee Tool sẽ nằm ở bị trí thứ hai từ trên xuống:

Rectangular Marquee Tool.

Lựa Chọn Vẽ Hình Chữ Nhật

Sử dụng Rectangular Marquee Tool ở dạng cơ bản nhất của nó rất dễ dàng. Chúng ta chỉ cần nhấp chuột vào điểm muốn bắt đầu lựa chọn, thường sẽ là góc trên cùng bên trái của đối tượng hay khu vực cần lựa chọn sau đó tiếp tục giữ nút chuột rồi kéo về phía dưới cùng bên góc phải. Thả nút chuột sau khi hoàn tất việc lựa chọn.

Dưới đây là một bức ảnh những khối gỗ với hình dạng khác nhau:

Những khối gỗ với hình dạng khác nhau.

Hãy nhìn vào khối gỗ màu đỏ ở hàng trên cùng. Giả sử bây giờ mình muốn thay đổi màu sắc cho nó. PTS không thể xác định được các khối gỗ, vì những gì nó thấy là các pixel. Tuy nhiên chúng ta thì có thể nhìn thấy rõ ràng nó là hình chữ nhật cho nên sử dụng Rectangular Marquee Tool để lựa chọn nó là hoàn toàn hợp lý.

Trước tiên mình sẽ chọn Rectangular Marquee Tool trên Toolbar. Hoặc cũng có thể dùng phím tắt M trên bàn phím, PTS sẽ ngay lập tức chọn Rectangular Marquee Tool. Để bắt đầu lựa chọn, mình sẽ nhấp vào góc trên cùng bên trái của khối hình chữ nhật màu đỏ. Sau đó giữ chuột và kéo về góc dưới cùng bên phải của khối này:

Dùng Rectangular Marquee Tool lựa chọn khối hình chữ nhật màu đỏ.

Nếu lỡ như điểm bắt đầu của bạn chưa đúng vị trí thì cũng đừng lo, chúng ta không cần phải bắt đầu lại từ đầu. Bạn chỉ cần giữ phím cách, sau đó kéo chuột để di chuyển vùng chọn đến nơi bạn cần. Sau khi hoàn tất, hãy thả phím cách và tiếp tục kéo lựa chọn tới điểm kết thúc.

Thả chuột và việc lựa chọn sẽ hoàn tất. Khối gỗ màu đỏ hiện đã được chọn (hoặc nói cách khác các pixel tạo nên khối gỗ mà chúng ta nhìn thấy đã được chọn). Có một đường viền lựa chọn xuất hiện xung quanh khối gỗ. Tại thời điểm này, bất kì chỉnh sửa nào mình thực hiện cũng sẽ chỉ ảnh hưởng đến khối gỗ màu đỏ này mà không hề ảnh hưởng đến những khối gỗ xung quanh:

Đường viền lựa chọn xuất hiện quanh khối gỗ hình chữ nhật màu đỏ.

Để thay đổi màu sắc, chúng ta sẽ đi tới menu Image, chọn Adjustments rồi chọn Hue/Saturation:

Image > Adjustments > Hue/Saturation.

Thao tác này sẽ mở ra hộp thoại Hue/Saturation. Mình sẽ thay đổi khối này thành màu cam. Việc thay đổi màu sắc này khá dễ dàng, bạn chỉ cần kéo thanh trượt Hue sang trái hoặc phải cho tới khi nào tìm thấy màu bạn muốn. Mình sẽ kéo về phía bên phải đến giá trị 28 để có được màu cam. Sau đó tăng độ bão hòa lên một chút thì mình sẽ kéo thanh trượt Saturation lên giá trị khoảng +25:

Kéo thanh trượt để lựa chọn màu và độ bão hòa.

Sau khi đã cảm thấy hài lòng, hãy nhấn vào OK để đóng hộp thoại. Bây giờ không cần tới lựa chọn nữa, nên mình sẽ bỏ nó đi. Chỉ cần đi tới menu Select rồi chọn Deselect:

Bỏ chọn sau khi đã đổi màu xong.

Cách nhanh hơn để xóa việc lựa chọn là sử dụng phím tắt Ctrl+D (Windows) / Command+D (Macbook). Tuy nhiên thì mình thấy cả hai cách đều hiệu quả. Sau khi đường viền lựa chọn biến mấy, có thể thấy rằng chỉ khu vực bên trong đường viền bị ảnh hưởng bởi điều chỉnh Hue/Saturation. Khối gỗ hình chữ nhật trước đó có màu đỏ, giờ đây đã chuyển thành màu cam. Những khối gỗ còn lại trong ảnh không hề thay đổi so với lúc đầu:

Chỉ phần bên trong đường viền lựa chọn mới bị ảnh hưởng bởi điều chỉnh Hue/Saturation.

Chọn khối gỗ bằng Rectangular Marquee Tool thật sự rất dễ dàng. Nhưng nếu đối tượng cần chọn là một hình vuông thì sao? Hãy thử xem có gì khác biệt không nào!

Vẽ Lựa Chọn Hình Vuông

Có thể thấy rằng việc lựa chọn một đối tượng hay khu vực hình chữ nhật bằng Rectangular Marquee Tool là một điều hết sức dễ dàng. Nhưng nếu bây giờ thứ chúng ta cần chọn là một hình vuông thì sao? Có cách nào để biến đường viền lựa chọn thành hình vuông không? Thực ra có tới hai cách để làm được điều này, trong đó có một cách cực kì nhanh chóng luôn đấy.

Dưới đây là hình ảnh với những ô vuông trông có vẻ hơi xấu xí và ghê rợn:

Những ô vuông xấu xí.

Ví dụ bây giờ mình muốn chọn ô ở trung tâm để sử dụng nó làm nền hoặc kết cấu thú vị cho một hiệu ứng chẳng hạn. Vì những ô này là hình vuông nên chắc chắn chúng ta cần giới hạn lựa chọn thành một hình vuông. Trước tiên chúng ta hãy cùng xem xét thử nào.

Bất cứ khi nào chọn Rectangular Marquee Tool, thanh tùy chọn trên đầu màn hình sẽ hiển thị các tùy chọn dành riêng cho công cụ này. Mỗi trong những tùy chọn được gọi là Style luôn được đặt mặc định thành Normal. Nó có nghĩa là chúng ta có thể tự do kéo ra bất kì lựa chọn với kích thước tùy ý mà chúng ta caanf. Để biến vùng chọn thành một hình vuông. Hãy đổi tùy chọn Style thành Fixed Ratio, sau đó nhập giá trị 1 cho cả hai tùy chọn Width và Height:

Đổi tùy chọn Style thành Fixed Ratio và đặt giá trị của Width và Height thành 1.

Điều này bắt buộc vùng chọn có tỷ lệ co giữa chiều rộng và chiều cao là 1:1, nghĩa là chiều rộng và chiều cao của vùng chọn sẽ luôn bằng nhau. Cũng có nghĩa là bây giờ chúng ta có thể dễ dàng vẽ ra một hình vuông hoàn hảo. Mình sẽ nhấp chuột vào góc trên cùng bên trái của ô để bắt đầu lựa chọn, giữ chuột rồi kéo về phía góc dưới cùng bên phải của ô đó. Lần này nhờ vào việc đã chỉnh sửa các giá trị trên thanh tùy chọn, đường viền của mình đã được giới hạn thành hình vuông:

Đường viền lựa chọn hình vuông.

Nếu vị trí lựa chọn bắt đầu không đúng lắm, chúng ta không cần thực hiện lại thao tác mà chỉ cần nhấn giữ phím cách, kéo vùng chọn đến vị trí mới sau đó thả phím cách và kéo phần còn lại của vùng chọn.

Thả chuột để hoàn tất việc lựa chọn. Nhìn vào tài liệu có thể thấy ô vuông ở trung tâm đã được chọn và đang sẵn sàng chờ đón những chỉnh sửa của mình dành cho nó:

Ô vuông ở trung tâm đã được chọn.

Vấn đề duy nhất khi sử dụng phương pháp này là các tùy chọn trên thanh tùy chọn sẽ giữ nguyên những gì chúng ta cài đặt. Ở lần sử dụng tiếp theo nó sẽ không tự động chuyển về cài đặt mặc định. Thực sự là đã có khá nhiều lần mình gặp chút rắc rối khi cố kéo một vùng chọn hình chữ nhật trong khi giới hạn của nó lại đang được đặt là hình vuông và mình quên béng đi mất phải đổi tùy chọn Style về Normal như mặc định. Vậy nên hãy nhớ trước khi tiếp tục thì hãy đổi Style về Normal luôn nhé:

Hãy nhớ đổi Style về Normal.

Phím Tắt

Một cách tốt hơn để giới hạn vùng chọn bằng hình vuông với Rectangular Marquee Tool đó là sử dụng phím tắt. Hãy nhấp vào điểm bắt đầu, kéo vùng chọn hình chữ nhật như thường làm, sau đó nhấn giữ phím Shift khi kéo chuột. Ngay khi nhấn phím Shift bạn sẽ thấy đường viền lựa chọn chuyển sang hình vuông hoàn hảo. Tiếp tục giữ phím Shift cho đến khi vẽ xong vùng chọn. Thả chuột để hoàn thành việc lựa chọn và cuối cùng bỏ giữ phím Shift.

Thứ tự các bước rất quan trọng đấy nhé, nếu thả phím Shift trước khi bỏ chuột để hoàn thành vùng chọn thì đường viền vùng chọn sẽ ngay lập tức quay trở lại hình chữ nhật và ta cần phải nhấn giữ lại phím Shift lần nữa để chuyển trở lại hình vuông. Ngoài ra nếu giữ phím Shift trước khi nhấp để bắt đầu lựa chọn thì bạn sẽ vào chế độ Add to Selection, đây không phải là điều chúng ta mong muốn và có thể nó sẽ mang lại cho bạn một kết quả không hề như mong đợi nếu như có một lựa chọn đang hoạt động mà bạn lại bắt đầu thêm một cái mới nữa. Vì thế hãy luôn nhớ rằng để giới hạn vùng chọn trong một hình vuông bằng phím tắt, trước tiên hãy nhấp chọn điểm bắt đầu rồi kéo, sau đó nhấn giữ phím Shift. Thả nút chuột tại điểm kết thúc để hoàn thành lựa chọn rồi mới bỏ phím Shift.

Tiếp theo chúng ta sẽ học cách kéo vùng chọn hình chữ nhật hoặc hình vuông từ tâm của nó!

Vẽ Lựa Chọn Từ Tâm

Cho tới giờ thì chúng ta luôn bắt đầu lựa chọn từ góc trên cùng bên trái của mọi thứ. Trong hầu hết các trường hợp thì nó đều hoạt động tốt. Nhưng không có quy tắc nào yêu cầu bạn phải bắt đầu điểm kéo ở góc trên cùng bên trái cả. Thực tế, PTS cung cấp cho người dùng một phím tắt đơn giản cho phép kéo cùng vùng chọn từ tâm của nó ra chứ không cần phải kéo từ góc.

Hãy nhấp vào điểm bắt đầu ở giữa khu vực cần chọn bằng Rectangular Marquee Tool rồi kéo lựa chọn, sau đó giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) và tiếp tục kéo. Ngay sau khi nhấn phím tắt tên, đường viền lựa chọn sẽ bắt đầu mở rộng theo các hướng từ điểm nhấp ban đầu. Tiếp tục kéo vùng chọn ra khỏi trung tâm, thả nút chuột để hoàn thành vùng chọn sau đó thả phím tắt:

Nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) để kéo vùng lựa chọn từ tâm.

Nhắc lại một lần nữa, thứ tự thực hiện các thao tác cực kì quan trọng. Nếu nhả phím Alt / Option trước khi thả chuột để hoàn tất vùng chọn thì đường viền vùng chọn sẽ quay lại như mặc định (tức là kéo vùng lựa chọn từ góc) Bạn sẽ phải nhấn giữ lại Alt / Option một lần nữa để chuyển nó về giữa. Ngoài ra nếu nhấn giữ Alt / Option trước khi nhấp để đặt điểm băt đầu thì bạn lại vô tình vào chế độ Subtract from Selection và gây ra những kết quả không hề mong muốn. Thứ tự chính xác để vẽ vùng chọn hình cữ nhật từ tâm là nhấp đặt điểm bắt đầu, kéo, sau đó nhấn giữ Alt / Option rồi tiếp tục kéo. Thả chuột để hoàn thành việc lựa chọn sau đó mới thả phím Alt / Option.

Đối với việc vẽ vùng lựa chọn hình vuông từ tâm thì ta chỉ cần thêm Shift vào là được. Nhấp vào trung tâm của đối tượng cần vẽ vùng lựa chọn, kéo vùng chọn sau đó nhấn giữ Shift+Alt (Windows) / Shift+Option (Macbook), thao tác này sẽ tạo đường viền vùng chọn theo hình vuông hoàn hảo và buộc lựa để để mở rộng thao các hướng từ điểm bắt đầu. Sau khi hoàn tất việc khoanh vùng lựa chọn hãy thả nút chuột, cuối cùng thả phím Shift+Alt (Windows) / Shift+Option (Macbook).

Xóa Nhanh Đường Viền Chọn

Sau khi thực hiện xong công việc và không cần tới đường viền chọn nữa thì chúng ta có thể bỏ nó đi bằng cách đi tới menu Select rồi chọn Deselect hoặc sử dụng phím tắt Ctrl+D (Windows) / Command+D (Macbook). Hoặc một cash nhanh hơn nữa để bỏ chọn vùng chọn hình chữ nhật hoặc hình vuông đó là nhấp vào bất kì đâu bên trong cửa sổ tài liệu khi Rectangular Marquee Tool vẫn đang hoạt động.

 

Tìm Hiểu Về Tác Vụ Lựa Chọn (Selection) Trong Photoshop

0

TẠI SAO CẦN LỰA CHỌN TRONG PHOTOSHOP

Có rất nhiều cách để lựa chọn trong PTS. Chúng ta có thể thực hiện các lựa chọn hình học đơn giản với Rectangular Marquee Tool hay Elliptical Marquee Tool. Cũng có thể lựa chọn tự do với Lasso, Polygonal Lasso hoặc Magnetic Lasso Tools. Ngoài ra còn có thể chọn các vùng có màu sắc hoặc độ sáng tương tự bằng lệnh Magic Wand hay Color Range. Thực hiện các lựa chọn chính xác với Pen Tool. Hay thậm chí có thể kết hợp các phương pháp lựa chọn khác nhau khi không có phương pháp và phù hợp hoàn toàn.

Tuy nhiên các bạn lại chưa từng được giải thích tại sao cần phải thực hiện các lựa chọn ngay từ đầu, vì vậy trong hướng dẫn này chúng ta sẽ cùng xem nhanh lý do tại sao nhé. Đây không phải bài giải thích chi tiết về cách thực hiện các lựa chọn. Mình sẽ nói kĩ ở hơn các hướng dẫn khác. Trong bài viết này chúng ta sẽ chỉ xem xét lý do tại sao cần thực hiện các lựa chọn mà thôi.

Bạn Nhìn Thấy Gì Trong Bức Ảnh Này?

Hãy nhìn vào những quả táo đỏ mọng trong hình ảnh dưới đây:

Chủ thể trong bức ảnh trên là những quả táo. Đúng không? Nhưng tại sao có thể chắc chắn nó là những quả táo? Đó là bởi vì từ trước đến giờ chúng ta đã nhìn qua vô số loại táo, hiểu tõ màu sắc, hình dạng và kết cấu của quả táo nên có thể nhận ra nó ngay lập tức. Thậm chí ta còn có thể chỉ vào từng quả táo trong bức ảnh nếu được yêu cầu mà không chỉ nhầm vào một chiếc lá hay thứ gì đó không phải là quả táo. Đơn giản vì không ai gặp vấn đề gì khi phân biệt giữa các đối tượng khác nhau trong ảnh. Chúng ta có thể nhìn mọi thứ bằng mắt và não bộ sẽ cho biết đó là gì. Trên thực tế ngay cả khi chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy quả táo thì não bộ cũng vẫn có thể chỉ ra tất cả các vật thể trong tương đối giống nhau. Chúng ta rất giỏi trong việc nhận biết và xác định các đối tượng mà bản thân làm thường xuyên mà không cần suy nghĩ một cách có ý thức về nó.

Điều đó thật tuyệt vời. Nhưng với PTS thì sao? Nó có nhìn thấy những quả táo không? Có nhận ra hình dạng, màu sắc và kết cấu của những quả táo không? Có thể lọc ra tất cả các quả táo trong ảnh mà không có chút nhầm lẫn nào không?

Câu trả lời tất nhiên là không! Cho dù trước đây bạn có mở bao nhiêu ảnh về quả táo thì PTS cũng không thể ghi nhớ được nó là quả táo hay gì. Lý do là bởi tất cả những gì PTS nhìn thấy là pixel, nó không quan tâm đó là táo, cam hay là con khỉ đang ăn chuối. Đối với PTS thì tất cả đều giống nhau. Chúng chỉ là những pixel, vuông vuông nhỏ nhỏ, tạo nên một bức ảnh kỹ thuật số:

Soi cận cảnh có thể thấy nó chỉ là những những pixel nhỏ xíu.

Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể nhấp vào đâu đó trên ảnh và mong đợi PTS ngay lập tức chọn nó. Bởi vì những gì chúng ta thấy là những đối tượng riêng biệt và độc lập, còn PTS thì không có gì khác ngoài những pixel có màu khác nhau. Vậy làm thế nào để chúng ta giải quyết vấn đề này? Xem nào, vì chẳng thể mong đợi PTS nghĩ được như con người, vậy thì chúng ta cần phải suy nghĩ theo PTS thôi. Chúng ta cần báo cho PTS rằng mình muốn làm việc với những pixel ở đây chứ không phải những pixel khác. Ví dụ, ta không thể nói với PTS rằng mình muốn thay đổi màu sắc của quả táo, nhưng ta có thể yêu cầu nó thay đổi màu sắc của những pixel tạo nên quả táo đó. Và điều đầu tiên chúng ta cần làm đó là chọn những pixel đó trong ảnh. Dĩ nhiên điều này sẽ được thực hiện bằng các công cụ lựa chọn!

Không Chọn Gì Nghĩa Là Tất Cả Đều Được Chọn

Cho tới giờ thì chúng ta đều biết rằng con người nhìn mọi thứ rất khác so với cách mà PTS nhìn thấy chúng. Chúng ta nhìn thấy các đối tượng một cách độc lập và dễ dàng nhận biết trong khi PTS coi mọi thứ dưới dạng pixel, chúng ta sẽ cho PTS biết chúng ta muốn xử lý pixel nào bằng cách chọn chúng bằng các công cụ lựa chọn khác nhau. Trên thực tế thì trước khi chúng ta có thể làm bất cứ điều gì đối với hình ảnh, PTS sẽ cần biết người dùng muốn chỉnh sửa những pixel nào.

Ví dụ mình muốn thay đổi màu của quả táo trong ảnh từ màu đỏ sang xanh lá cây. Theo những gì mình vừa nói thì sẽ không thể làm được điều này nếu như không chọn các pixel tạo nên quả táo trước. Hãy cùng thử xem sao nào. Mình sẽ chọn Brush Tool:


Chọn Brush Tool.

Sau đó chọn màu xanh lá cây để vẽ bằng cách nhấp vào mẫu màu Foreground gần cuối bảng Tools:

Chọn màu Foreground.

Nhấp vào mẫu màu trong Photoshop’s Color Picker. Mình sẽ chọn màu xanh lá nhạt:

Bảng chọn màu.

Nhấp vào OK để xác nhận và thoát ra khỏi bảng Color Picker. Giờ thì mình đã chọn Brush Tool và màu xanh lá làm màu Foreground vậy nên mình sẽ thử tô màu lên quả táo. Vì không chọn bất kì pixel nào trước khi vẽ nên mình nghĩ là dường như mình đang lãng phí thời gian khi thử bằng cách này. PTS sẽ không cho phép ta thực hiện bất kì điều gì. Trên thực tế ngay sau khi thử tô lên quả táo thì sẽ có ngay một cảnh báo đe dọa sẽ làm hỏng ổ cứng nếu như cứ tiếp tục làm điều này:

Hiệu ứng hình ảnh siêu thực.

Nhưng hãy nhìn xem điều gì đang xảy ra này. Mình có thể vẽ trên quả táo và PTS cũng không ngăn chặn điều đó? Mình vừa nói rằng chúng ta không thể làm bất cứ điều gì với hình ảnh nếu không chọn những pixel muốn chỉnh sửa từ trước. Và mình đã dùng Brush Tool để thử vẽ lên một phần của ảnh khi không chọn bất kì pixel nào trước đó. Lẽ ra thì không thể nhưng mình vẫn có thể vẽ lên nó. Sao lại bất đồng như thế được nhỉ?

Thực ra thì lý do khiên cho mình có thể vẽ lên quả táo khi mà chưa hề chọn bất kì một pixel nào đó là bởi vì bất cứ khi nào chúng ta không thực hiện chọn một thứ gì cố định trong hình ảnh, thì toàn bộ hình ảnh đó đều coi như là được chọn. PTS giả định rằng nếu không có bất kỳ pixel cụ thể nào được chọn, thì có nghĩa là người dùng muốn chọn toàn bộ các pixel để chỉnh sửa tổng thể. Hoặc ít nhất chúng ta có tùy chọn để chỉnh sửa toàn bộ hình ảnh. Như đã thấy ở ví dụ bên trên, mình có thể vẽ chỉ trên một như của bức ảnh mặc dù trước đó không hề chọn một pixel vào, và nếu như muốn thì mình có thể dễ dàng vẽ lên toàn bộ hình ảnh mà không hề bị ngăn cản.

Mặc dù nghe thì có vẻ tuyệt vời khi muốn tô vẽ vào bất cứ đâu mình muốn nhưng thực ra nó là ý tưởng khá tệ, ít nhất là đối với việc chỉnh sửa hình ảnh. Trong ví dụ này, tất cả những gì mình muốn làm là đổi màu sắc của quả táo, và bởi vì không khoanh vùng chọn quả táo trước nên PTS cho phép mình vẽ tùy ý, bất cứ nơi nào mình muốn. Và những gì mình làm được trong khá lộn xộn và chẳng ra sao. Hãy thử lại một lần nữa xem điều gì sẽ xảy ra nếu mình chọn quả táo trước nhé.

Tô Màu Bên Trong Vùng Được Chọn

Nhấn Ctrl+Z (Windows) / Command+Z (Macbook) để hoàn tác hình ảnh. Lần này mình sẽ chọn quả táo trước khi tô lên nó. Như đã nói lúc đầu mình sẽ hướng dẫn chi tiết cách thực hiện các lựa chọn ở bài hướng dẫn khác nên ở đây mình sẽ không giải thích kĩ. Giờ mình sẽ tiếp tục với việc vẽ một vùng chọn xung quanh quả táo.

PTS hiện thị phác thỏa lựa chọn dưới dạng đường viền với các nét đứt xung quanh quả táo:

Khoanh vùng lựa chọn xung quanh quả táo.

Hãy nhớ, đối với chúng ta thì quả táo đang được chọn, nhưng đối với PTS tất cả chỉ là những pixel. Chúng chỉ tình cờ là những pixel tạo nên quả táo mà chúng ta nhìn thấy. Các pixel nằm trong ranh giới của đường viền hiện đã được chọn. Cũng có nghĩa là chúng có thể bị ảnh hưởng bởi bất kì chỉnh sửa nào mà mình thực hiện tiếp theo. Những pixel phía bên ngoài đường viền sẽ không hề bị ảnh hưởng đến.

Cùng xem thử điều gì xảy ra khi mình vẽ lại quả táo nào. Mình sẽ dùng Brush Tool như lúc nãy, cùng với màu Foreground là xanh lá nhạt và vẽ lên quả táo một lần nữa. Đây chính là sự khác biệt so với lúc trước:

Phần tô màu chỉ gói gọn bên trong khu vực đã chọn.

Nhờ vào việc khoanh vùng lựa chọn trước, PTS đã giúp chúng ta chỉ tô bên trong khu vực được chọn dù vô tình tô lem cọ ra ngoài ranh giới đã chọn thì những pixel phía bên ngoài cũng không hề bị ảnh hưởng gì. Mình có thể dễ dàng tô lên quả táo mà không sợ làm hỏng những phần còn lại.

Việc chọn một vùng pixel nhất định không có nghĩa là cần phải chỉnh sửa tất cả pixel bên trong phần được chọn đó. Mình sẽ loại bỏ các nét sơn màu xanh lá cây bằng cách nhấn Ctrl+Z (Windows) / Command+Z (Macbook) để hoàn tác bước cuối cùng. Lần này, với khu vực được lựa chọn vẫn đang hoạt động, mình sẽ sử dụng cọ vẽ lớn hơn với các canh mềm và chỉ vẽ nửa thân dưới của quả táo, tạo một sự chuyển tiếp khéo léo ở giữa màu xanh lá cây và màu đỏ tự nhiên của quả táo.

Bất kì pixel nào bên trong đường viền lựa chọn cũng có thể được chỉnh sửa nhưng không có nghĩa là phải chỉnh sửa toàn bộ các pixel này.

Để làm mọi thứ trong thực tế hơn, mình sẽ pha trộn màu xanh lá cây với màu thực của quả táo bằng cách sử dụng một trong các chế độ hòa trộn của PTS. Hãy đi tới menu Edit rồi chọn Fade Brush Tool:

Edit > Fade Brush Tool.

Thao tác này sẽ mở ra hộp thoại Fade, cho phép chúng ta thực hiện một số điều chỉnh đối với chỉnh sửa trước đó. Để hòa trộn màu xanh lá cây với quả táo mình sẽ thay đổi Mode thành Color và giảm Opacity xuống còn 80%:

Chế độ Color cho phép chúng ta thay đổi màu sắc của đối tượng mà không làm thay đổi giá trị độ sáng ban đầu.

Mình sẽ nhấp vào OK để thoát khỏi hộp thoại Fade. Nhấn Ctrl+H (Windows) / Command+H (Macbook) để tạm thời ẩn đường viền xung quanh quả táo. Việc này giúp cho việc đánh giá kết quả dễ dàng hơn. Nhờ những điều chỉnh đã thực hiện với lệnh Fade, giờ đây chúng ta đã có một quả táo vẫn còn hơi xanh:

Nhấn Ctrl+H (Windows) / Command+H (Macbook) để tạm thời ẩn đường viền xung quanh quả táo. Nhấn lại một lần nữa để hiển thị lại đường viền.

Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét một lý do quan trọng khác để thực hiện các lựa chọn khi làm việc với layer.

Lựa Chọn Giúp Cho Layer Trở Nên Hữu Ích Hơn

Cho tới giờ mình đã thực hiện tất cả các chỉnh sửa trên layer Background. Điều này khá tệ bởi vì nó có nghĩa là mình đang thực hiện các thay đổi đối với ảnh gốc. Nếu mình lưu các thay đổi này lại và đóng cửa sổ tài liệu thì ảnh gốc sẽ biến mất vĩnh viến. Đôi khi thì cũng chẳng sao cả nhưng nếu cần tới bản gốc một lần nữa…bạn biết rồi đó, nó thực sự là một rắc rối lớn.

Một cách tốt hơn để làm việc trong PTS đó là sử dụng các layer. Với layer, chúng ta có thể làm việc trên một bản sao của hình ảnh mà vẫn giữ nguyên bản gốc không hề bị tác động gì. Nhờ vào các lựa chọn chúng ta thậm chí còn có thể sao chép các phần khác nhau của hình ảnh vào các layer của chính chúng để làm việc một cách độc lập. Tuy nhiên nếu không có khả năng lựa chọn thì các layer trong PTS sẽ không hữu ích bằng.

Mình sẽ hoàn nguyên hình ảnh về trạng thái ban đầu khi chưa chỉnh sửa bằng cách đi tới menu File chọn Rever:

File > Revert.

Một hiệu ứng phổ biến trên PTS là để lại một thứ gì đó có màu sắc trong ảnh và các phần còn lại đổi qua màu đen trắng. Hãy xem các lựa chọn có thể giúp chúng ta thực hiện điều này không nhé. Như mình vừa nói thì việc thực hiện trực tiếp trên layer Background là một điều khá tệ. Thế nên mình sẽ sao chép layer này và làm việc với bản sao chép. Mình sẽ đi tới menu Layer rồi chọn Layer via Copy:

Tạo bản sao của layer Background.

Nhìn vào bảng điều khiển Layers, có thể thấy rằng bây giờ chúng ta có hai layer: layer Background và Layer 1 (chứa bản sao của hình ảnh trên layer Background, chúng ta có thể chỉnh sửa mà không làm tổn hại đến ảnh gốc):

Làm việc với bản sao để giữ cho bản gốc được nguyên vẹn.

Lưu ý rằng toàn bộ layer Background đã được sao chép. Chúng ta sẽ quay lại vấn đề này sau. Vì muốn giữ lại quả táo với màu sắc đỏ thẫm như ban đầu và chuyển những thứ khác sang màu đen trắng nên trước tiên cần chọn quả táo trước. Mình sẽ vẽ một vùng chọn xung quanh nó:

Lựa chọn quả táo.

Với quả táo được chọn, mình sẽ tạo một bản sao khác của hình ảnh bằng cách đi tới menu Layer, chọn New sau đó chọn Layer via Copy. Lúc tước thực hiện thao tác này PTS đã sao chép toàn bộ layer, nhưng lần này thì khác. Tất cả những gì chúng ta sao chép tới layer mới là quả táo, chỉ vậy thôi:

Lần này chỉ quả táo được sao chép tới Layer 2.

Bất cứ khi nào có một vùng lựa chọn đang hoạt động thì khi chúng ta sao chép một layer, chỉ có vùng bên trong đường viền lựa chọn được sao chép. Đó là lý do tại sao chỉ có mình quả táo được sao chép sang Layer 2. Khả năng cô lập một đối tượng cụ thể trong ảnh và sao chép mình nó là điều khiến cho các layer trở nên vô cùng hữu ích. Nếu không thể chọn bất kì thứ gì trước thì tất cả những gì chúng ta có thể làm là tạo tiếp một bản sao của bản sao của hình ảnh, điều này khá vô nghĩa nếu như nó có âm thanh.

Bây giờ quả táo đã nằm hoàn toàn trên một layer khác. Mình sẽ nhấp vào “Layer 1” để chọn nó:

Chọn Layer 1.

Để chuyển hình ảnh thành màu đen trắng, mình sẽ khử bão hòa bằng cách đi tới menu Edit chọn Adjustments rồi chọn Desaturate:

Lệnh Desaturate là cách nhanh chóng để xóa màu khỏi hình ảnh.

Đây chắc chắn không phải cách tốt nhất để chuyển ảnh sang màu đen trắng, nhưng nó là cách rất nhanh để làm điều này. Nhìn lại bảng điều khiển Layers, hình thu nhỏ xem trước của “Layer 1” đã đổi thành màu đen trắng, trong khi quả táo ở Layer 2 không hề bị ảnh hưởng và vẫn giữ màu đỏ thẫm:

Chỉ Layer bị đổi sang màu đen trắng.

Vì quả táo đỏ nằm ở layer phía trên phiên bản đen trắng của hình ảnh nên nó xuất hiện với đầy đủ màu sắc vốn ngay trên hình ảnh đen trắng trong tài liệu:

Một kết quả tuyệt vời.

Tất nhiên còn rất nhiều điều chúng ta có thể làm với các vùng được chọn trong PTS hơn là chỉ vẽ bên trong chúng hay sao chép sang layer mới nhưng hy vọng qua đây các bạn sẽ hiểu lý do tại các vùng được chọn lại quan trọng như vậy. PTS chỉ nhìn thấy các pixel trong khi chúng ta có thể nhìn thấy các đối tượng độc lập. Vì thế chúng ta cần khoanh vùng lựa chọn để thu hẹp khoảng cách giữa thế giới con người và thế giới PTS. Và có thể khẳng định rằng layer là một trong những tính năng quan trọng nhất của PTS, chúng có tính hữu ích hơn hẳn so với các lựa chọn.

 

Các Phím Tắt Dùng Cho Layer Trong Photoshop

0

CÁC PHÍM TẮT CẦN THIẾT DÙNG CHO LAYER TRONG PHOTOSHOP

Hãy cùng tìm hiểu cách để tăng tốc quá trình làm việc với các layer từ việc tạo, sao chép, chọn layer để hòa trộn… bằng các phím tắt nhé!

Khi nói đến việc tận dụng tối đa sự tiện ích của PTS chúng ta cần phải biết hai điều. Đó là cách sử dụng các layer và cách sử dụng các phím tắt. Layer giúp cho công việc của chúng ta trở nên linh hoạt. Trong khi đó thì các phím tắt sẽ giúp chúng ta hoàn thành mục tiêu một cách nhanh nhất có thể.

Trong bài viết này mình sẽ chỉ cho các bạn những phím tắt cơ bản dùng cho layer. Việc ghi nhớ những phím tắt này đảm bảo sẽ giúp tăng năng suất làm việc của bạn và giúp bạn tiến xa hơn trên con đường trở thành một người thành thạo PTS.

Bài hướng dẫn này phù hợp cho Photoshop CS6 và Photoshop CC. Nếu như bạn đang sử dụng Photoshop CS5 hay những phiên bản cũ hơn thì mình nghĩ là bạn sẽ muốn nâng cấp phiên bản đang sử dụng lên đó.

Các Phím Tắt Cần Thiết Cho Layer

Ẩn/Hiện Bảng Điều Khiển Layer

Theo mặc định, bảng điều khiển Layer sẽ xuất hiện trong cột bảng điều khiển nằm dọc theo bên phải màn hình:

Bảng điều khiển Layer nằm ở phía bên phải của giao diện PTS.

Người dùng có thể ẩn hoặc hiện bảng điều khiển bằng cách nhấn F7. Nhấn F7 lần một để ẩn đi, sau đó nhấn F7 lần nữa để hiển thị lại bảng điều khiển Layer. Lưu ý thao tác này cũng làm ẩn/hiện bảng Channels và Paths vì chúng được lồng vào cùng một nhóm bảng điều khiển với bảng Layer:

Góc nhìn kĩ hơn về bảng điều khiển Layer.

Đặt Tên Cho Một Layer Mới

Cách thông thường để đặt tên cho một layer mới là nhấp vào biểu tượng New Layer ở cuối bảng điều khiển:

Nhấn vào biểu tượng New Layer.

Vấn đề ở đây là PTS sẽ đặt tên cho lớp mới một cái tên khá chung chung như là “Layer 1”. Việc đặt tên như này đôi khi không tiện cho quá trình làm việc cho lắm:

Tên layer được đặt khá chung chung có vẻ không hữu ích cho lắm.

Cách tốt hơn để tạo một layer mới là nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) khi nhấn vào biểu tượng New Layer:

Nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) khi nhấn vào biểu tượng New Layer.

Thao tác này yêu cầu PTS mở hộp thoại New Layer và người dùng có thể đặt tên cho layer trước khi nó được thêm vào tài liệu. Ví dụ mình muốn sử dụng Clone Stamp Tool trên layer mới thêm vào, vậy mình sẽ đặt tên cho layer này là “Cloning”:

Đặt một cái tên rõ ràng hơn cho layer.

Nhấn OK để chấp nhận tên mới và đóng hộp thoại New Layer. Giờ thì layer “Cloning” đã xuất hiện trong bảng điều khiển Layer:

Layer mới xuất hiện cùng với tên tùy chỉnh.

Tạo Layer Mới Bằng Phím Tắt

Nhấn phím Shift+Ctrl+N (Windows) / Shift+Command+N (Macbook) để tạo layer mới một cách nhanh chóng từ bàn phím. PTS sẽ mở hộp thoại New Layer để người dùng có thể đặt tên cho layer.

Nếu bạn không chú trọng đến việc đặt tên cho layer như nào, thì chỉ cần nhấn Shift+Ctrl+Alt+N (Windows) / Shift+Command+Option+N (Macbook). Thao tác này sẽ bỏ qua việc mở hộp thoại New Layer mà trực tiếp tạo một layer mới vào bảng điều khiển và tự đặt tên cho nó theo mặc định của PTS (ví dụ như “Layer 2”).

Sao Chép Layer Hay Sao Chép Một Vùng Được Chọn Sang Layer Mới

Để nhanh chóng tao một bản sao của layer hay sao chép vùng được chọn sang một layer mới, chỉ cần nhấn Ctrl+J (Windows) / Command+J (Macbook). Ở đây mình sẽ tạo một bản sao của layer Background. Lưu ý là PTS đã tự động đặt tên cho bản sau là “Layer 1”. Nếu muốn tự đặt tên cho layer trước khi thêm nó, hãy nhấn Ctrl+Alt+J (Windows) / Command+Option+J (Macbook) để mới hộp thoại New Layer:

Tạo bản sao của layer Background bằng phím Ctrl+J (Windows) / Command+J (Macbook).

Sao Chép Một Layer Khi Đang Di Chuyển Nó

Để cùng lúc vừa sao chép vừa di chuyển layer trước tiên ta cần nhấn chọn layer đó trong bảng điều khiển Layer. Nhấn V để chọn Move Tool. Sau đó nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) khi nhấp và kéo layer trong tài liệu để di chuyển nó. Thay vì di chuyển layer gốc, chúng ta sẽ di chuyển một bản sao của layer trong khi bản gốc vẫn ở nguyên vị trí cũ.

Thêm Một Layer Mới Ngay Dưới Layer Được Chọn

Theo mặc định, PTS sẽ xếp layer mới được thêm vào ở ngay trên layer hiện đang được chọn trong bảng điều khiển Layer. Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể thêm các layer mới vào dưới layer đang được chọn. Như trong ví dụ dưới đây của mình, “Layer 1” hiện đang được chọn. Để yêu cầu PTS thêm một layer mới bên dưới nó thì tất cả những gì mình cần làm là nhấn giữ phím Ctrl (Windows) / Command (Macbook) trong khi nhấn biểu tượng New Layer. Nếu muốn đổi tên layer trước khi thêm vào bảng điều khiển thì nhấn giữ phím Ctrl+Alt (Windows / Command+Option (Macbook):

Nhấn giữ phím Ctrl (Windows) / Command (Macbook) trong khi nhấn biểu tượng New Layer.

Bởi vì mình đang giữ phím Ctrl (Windows) / Command (Macbook) nên PTS đã thêm layer mới vào bên dưới Layer 1. Lưu ý thủ thuật này không khả dụng khi layer Background là layer đang được chọn vì PTS không cho phép người dùng đặt bất kì một layer nào dưới lớp nền:

Layer mới được đặt ngay dưới layer được chọn.

Chọn Tất Cả Layer Cùng Lúc

Để chọn tất cả layer cung một lúc, nhấn phím Ctrl+Alt+A (Windows) / Command+Option+A (Macbook). Lưu ý thao tác này sẽ chọn tất cả các layer ngoại trừ layer Background:

Nhấn phím Ctrl+Alt+A (Windows) / Command+Option+A (Macbook) để chọn tất cả layer cùng lúc.

Chọn Nhiều Layer

Để chọn nhiều layer liền kề nhau, hãy nhấn vào layer trên cùng để chọn sau đó nhấn giữ phím Shift và nhấp vào layer dưới dùng (hoặc ngược lại). Thao tác này sẽ chọn layer trên cùng, dưới cùng và tất cả những layer nào nằm giữa hai layer này. Ở ví dụ bên dưới mình đã nhấn vào layer “Dancer”, sau đó nhấn Shift vào layer “Shadow”. Vậy là PTS đã chọn hai layer này và cả layer “Color Fill 1” ở giữa:

Chọn nhiều layer.

Có một cách khác để chọn nhiều layer nằm liền nhau đó là nhấn giữ Shift+Alt (Windows) / Shift+Option (Macbook) và sử dụng phím “[” hoặc “]”. Phím “]” sẽ thêm layer phía trên layer hiện đang được chọn và ngược lại. Tiếp tục nhấn phím ‘‘[’’ hoặc “]” để thêm những lớp tiếp theo ở trên hoặc dưới nó.

Để chọn nhiều layer nhưng không nằm liền kề nhau hãy nhấn Ctrl (Windows) / Command (Macbook) và nhấn vào từng layer mà bạn muốn chọn:

Chọn nhiều layer nhưng không nằm liền kề nhau.

Cuộn Các Layer

Để cuộn các layer trong bảng điều khiển Layer, hãy nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) và sử dụng các phím “[” và “]”. Phím “]” là cuộn lên, phím “[” là cuộn xuống.

Di Chuyển Layer Lên Hoặc Xuống

Để di chuyển layer đã chọn lên hoặc xuống, hãy nhấn giữ Ctrl (Windows) / Command (Macbook) và sử dụng phím “[” hoặc “]”. Phím “]” giúp di chuyển lên trên và phím “[” giúp di chuyển xuống dưới. Lưu ý rằng phím tắt này không khả dụng với layer Background và chúng ta cũng không thể di chuyển bất kỳ một layer nào xuống dưới layer Background.

Chuyển Trực Tiếp Một Layer Lên Trên Cùng Hoặc Xuống Dưới Cùng

Để ngay lập tức chuyển một layer bất kì lên trên cùng, ta nhấn Shift+Ctrl+] (Windows) / Shift+Command+] (Macbook). Ví dụ, mình sẽ chuyển layer “Color Fill 1” lên trên cùng:

Chuyển layer đã chọn lên trên cùng.

Để chuyển layer đã chọn xuống dưới cùng (vị trí ngay trên layer Background), hãy nhấn Shift+Ctrl+[ (Windows) / Shift+Command+[ (Macbook). Phím tắt này tất nhiên cũng không khả dụng đối với layer Background:

Di chuyển layer xuống dưới cùng.

Ẩn/Hiện Layer

Nếu đã từng dùng qua PTS bạn sẽ biết được rằng có thể ẩn/hiện layer trong PTS bằng cách nhấn vào biểu tượng hình con mắt (cạnh hình thu nhỏ xem trước) trong bảng điều khiển Layer:

Nhấn vào biểu tượng hình con mắt để ẩn/hiện layer.

Tuy nhiên chúng ta có thể tạm thời ẩn các layer khác ngoại trừ layer được chọn bằng cách nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) khi nhấp vào biểu tượng hình con mắt. Nhìn vào ví dụ bên dưới, biểu tượng này chỉ hiển thị đối với layer “Dancer”, có nghĩa là các layer khác hiện đã bị ẩn đi và chỉ còn mình layer “Dancer” đang hiển thị. Để bật lại tất cả các layer ta nhấn và giữ Alt (Windows) / Option (Macbook) rồi nhấp lại vào biểu tượng hiển lúc trước.

Nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) khi nhấp vào biểu tượng hiển thị để ẩn/hiện layer.

Xem Từng Layer Một

Một cách rất hữu ích mà nhiều người không biết đến đó là sau khi nhấp Alt (Windows) / Option (Macbook) vào biểu tượng hiển thị của một layer để ẩn các layer còn lại và chỉ giữ nguyên layer mà bạn nhấn vào biểu tượng hiển thị, thì có thể cho hiển thị lần lượt từng layer một bằng cách nhấn giữ phím Alt (Win) / Option (Mac) rồi nhấn phím “[” hoặc “]”.

Phím “]” sẽ giúp hiển thị lần lượt các layer phía trên, phím “[” sẽ giúp hiển thị các layer phía dưới. Khi tới mỗi layer mới, PTS sẽ khiến cho layer đó trở thành layer duy nhất hiển thị và ẩn đi các layer khác. Điều này giúp bạn dễ dàng cuộn qua các layer và xem chính xác nội dung từng layer.

Chọn Nội Dung Của Layer

Để chọn nội dụng của layer, nhấn giữ phím Ctrl (Win) / Command (Mac) và nhấn trực tiếp vào hình thu nhỏ xem trước trong bảng điều khiển Layer. Một đường viền lựa chọn sẽ xuất hiện xung quanh nội dung của layer trong tài liệu:

Nhấn giữ phím Ctrl (Win) / Command (Mac) và nhấn trực tiếp vào hình thu nhỏ xem trước.

Chọn Toàn Bộ Layer

Để chọn toàn bộ layer trước tiên hãy nhấp vào layer đó để nó trở thành layer đang hoạt động sau đó nhấn Ctrl+A (Windows) / Command+A (Macbook).

Tạo Nhóm Mới Từ Các Layer

Để nhanh chóng tạo một nhóm từ các layer đã chọn, trước tiên ta cần chọn các layer muốn nhóm vào cùng một nhóm:

Chọn layer để nhóm vào cùng một nhóm.

Sau đó nhấn Ctrl+G (Windows) / Command+G (Macbook). PTS sẽ tạo một nhóm mới và đặt các layer đã chọn vào trong đó. Để hủy nhóm các layer, nhấn Shift+Ctrl+G (Win) / Shift+Command+G (Mac):

Nhấn Ctrl+G (Windows) / Command+G (Macbook) để nhóm các layer đã chọn.

Hợp Nhất Các Layer Lại Với Nhau

Nhấn Ctrl+E (Windows) / Command+E (Macbook) để hợp nhất một layer với layer ngay dưới nó trong bảng điều khiển Layer.

Để hợp nhất nhiều layer, trước tiên chúng ta cần chọn các layer muốn hợp nhất sau đó nhấn Ctrl+E (Windows) / Command+E (Macbook).

Để hợp nhất hai hay nhiều layer thành một layer mà vẫn giữ nguyên layer gốc thì hãy nhấn chọn các layer đó rồi nhấn Ctrl+Alt+E (Windows) / Command+Option+E (Macbook).

Để hợp nhất tất cả các layer và làm phẳng hình ảnh thành một layer nhấn Shift+Ctrl+E (Windows) / Shift+Command+E (Macbook).

Để hợp nhất tất cả các layer thành một layer mới riêng biệt và vẫn giữ nguyên bản gốc nhấn Shift+Ctrl+Alt+E (Windows) / Shift+Command+Option+E (Macbook).

Tạo Một Mặt Nạ Cắt (Clipping Mask)

Có một số cách để có thể nhanh chóng tạo mặt nạ cắt trong PTS bằng phím tắt. Cách thứ nhất là đưa chuột trực tiếp qua đường phân cách giữa hai layer trong bảng điều khiển Layers. Sau đó nhấn giữ phím Alt (Win) / Option (Mac) rồi nhấp vào. Layer bên trên sẽ được cắt vào layer bên dưới nó. Thực hiện tương tự để hủy tạo mặt nạ cắt:

Tạo mặt nạ cắt.

Một cách khác đó là trước tiên ta sẽ chọn layer được cắt và layer bên dưới nó. Sau đó nhấn Ctrl+Alt+G (Windows) / Command+Option+G (Macbook). Nhấn lại một lần nữa để hủy.

Chuyển Đổi Blend Mode

Khi lựa chọn Blend Mode đa phần mọi người sẽ mở danh sách ở phía trên cùng góc trái bảng điều khiển Layers. Rồi chọn từng cái để xem hiệu ứng sẽ ra sao, việc này khá lằng nhằng mất thời gian và thực tế là có một cách tốt hơn nhiều.

Chỉ cần nhấn giữ phím Shift và sử dụng các phím “+” hoặc “” (phím “+” là cuộn xuống, phím “-” là cuộn lên) là có thể dễ dàng chuyển qua và xem trước kết quả các chế độ hòa trộn khác nhau của PTS.

Tuy nhiên hãy lưu ý rằng một số công cụ của PTS như các công cụ vẽ, các công cụ hìn dạng hay Gradient Tool có chế độ blend màu riêng cho người dùng lựa chọn. Khi sử dụng phím tắt với các công cụ này thì nó sẽ chuyển bạn qua các chế độ của công cụ chứ không phải của layer nữa:

Nhấn giữ phím Shift và sử dụng các phím “+” hoặc “-”

Để tìm hiểu thêm các phím tắt trong Blend Modes hãy tham khảo bài viết Những Phím Tắt Cần Thiết Của Blend Mode.

Thay Đổi Opacity

Để nhanh chóng thay đổi giá trị Opacity của một layer, hãy nhấn vào chữ V để chọn Move Tool sau đó nhập số vào đó. (Nhập “5” cho độ mờ 50%, “8” cho 80%, “3” cho 30%…) Nếu cần một giá trị khác như 25% thì hãy nhập nhanh “25” vào đó. Để có độ mờ 100% thì hãy nhập số “0”. Giá trị bất kì mà bạn nhập sẽ hiện trong tùy chọn Opacity ở góc trên cùng bên phải bảng điều khiển Layer:

Thay đổi giá trị Opacity.

Thực ra không cần nhất thiết phải chọn Move Tool để phím tắt này hoạt động, nhưng bạn cần phải chọn một công cụ mà công cụ đó không có tùy chọn độ mờ của riêng nó (nếu không thì bạn sẽ chỉ thay đổi độ mờ của chính công cụ đó chứ không phải layer). Mình chọn Move Tool là bởi nó không có tùy chọn độ mờ của riêng nó và nằm ở ngay đầu bảng điều khiển Tools nên rất tiện.

Thay Đổi Giá Trị Fill

Chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi giá trị của tùy chọn Fill theo cách tương tự. Giống với Opacity, Fill kiểm soát độ trong suốt của một layer. Điều khác nhau duy nhất là trong khi Opacity kiểm soát mức độ trong suốt của cả layer và nội dung thì Fill lại chỉ ảnh hưởng đến nội dung thực tế của layer. (Xem hướng dẫn vầ Opacity và Fill để hiểu rõ hơn).

Nhấn giữ phím Shift rồi nhập giá trị mới:

Nhấn giữ phím Shift rồi nhập giá trị mới.

Xóa Layer

Cuối cùng, để xóa một layer mà không cần kéo nó vào biểu tượng thùng rác. Rất đơn giản ta chỉ cần nhấn Backspace (Windows) / Delete (Macbook).

 

Tìm Hiểu Về Tính Năng Opacity Và Fill Trong Photoshop

0

OPACITY VÀ FILL TRONG PHOTOSHOP

Tùy chọn Opacity và Fill kiểm soát độ trong suốt của layer và thường hoạt động giống hệt nhau. Trong bài hướng dẫn này chúng ta sẽ tìm hiểu sự khác biệt quan trọng giữa hai tùy chọn này khi làm việc với layer.

Câu hỏi phổ biến nhất mà mình hay gặp đó là “Sự khác biệt giữa Opacity và Fill là gì? Hai tùy chọn này không phải là giống hệt nhau sao?”. Câu hỏi này khá hay đó vì trong hầu hết các trường hợp thì chức năng của chúng thực sự giống hệt nhau.

Cả Opacity và Fill đều kiểm soát độ trong suốt của layer. Tức là chúng kiểm soát mức độ mà layer được chọn cho phép các layer khác bên dưới nó hiển thị trong tài liệu. Để giảm độ trong suốt của layer thông thường chúng ta sẽ giảm giá trị Opacity. Nhưng nếu như tùy chọn Fill cũng làm giảm độ trong suốt thì lý do gì phải chia ra làm hai tùy chọn mà chỉ phục vụ cho một mục đích? Rõ ràng là phải có sự khác biệt ở đây chứ.

Và sự khác biệt chính giữa hai tùy chọn này liên quan đến layer styles (kiểu layer) trong PTS. Nếu như bạn chưa thêm bất kì hiệu ứng (layer style) nào vào layer ví dụ như nét vẽ, đổ bóng, góc xiên, chạm nổi hay ánh sang bên ngoài thì chức năng của Oapcity và Fill tương tự nhau. Nhưng chỉ cần áp dụng một hay nhiều hiệu ứng thì Opacity và Fill sẽ hoạt động khác nhau đó. Hãy cùng tìm hiểu nhé!

Mình sẽ lấy một hình ảnh từ thư viện ảnh Fotolia và thêm vào ảnh dòng chữ “Dream”:

Ảnh gốc và chèn thêm chữ “Dream”.

Nhìn vào bảng điều khiển Layers, có thể thấy ảnh bé gái đang nằm trên layer Background và từ “Dream” nằm ở layer riêng phía bên trên. Ngoài ra còn có một bản sao của layer Dream nhưng hiện tịa mình đã tắt hiển thị của nó:

Các layer trong bảng điều khiển Layers.

Tùy chọn Opacity nằm ở góc trên cùng bên phải của bảng Layers còn tùy chọn Fill nằm ngay bên dưới nó. Theo mặc định thì cả hai đều được đặt là 100%, nghĩa là dòng chữ nằm trên tài hiện đang hiển thị 100%:

Cả Opacity và Fill đều được đặt là 100% theo mặc định.

Hãy xem điều gì xảy ra nếu như mình chỉnh Opacity xuống còn 50%:

Chỉnh Opacity xuống 50%.

Với Opacity được hạ xuống còn 50% thì từ “Dream” trong tài liệu giờ có độ trong suốt là 50% khiến cho hình ảnh bên dưới nó có thể hiển thị một phần:

Hình ảnh sau khi hạ giá trị Opacity xuống còn 50%.

Giờ hãy đưa Opacity về giá trị cũ (100%) và hạ Fill xuống mức 50% xem sao nhé:

Hạ Fill xuống 50%.

Với giá trị Fill là 50%, từ “Dream” một lần nữa lại có độ trong suốt là 50% và kết quả chúng ta nhận được cũng tương tự như khi giảm giá trị của Opacity:

Kết quả giống nhau khi hạ giá trị của Opacity và Fill xuống 50%.

Sự Khác Nhau Giữa Opacity Và Fill Khi Có Thêm Hiệu Ứng

Cho tới giờ thì các bạn vẫn chưa thấy được sự khác biệt giữa hai tùy chọn này đúng không? Đó là bởi vì chúng ta đang thực hiện trên một layer mà không có bất kì một hiệu ứng nào được áp dụng cho nó. Hãy cùng xem thử điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta thử trên một layer khác nhé. Mình sẽ tắt hiển thị của layer Dream:

Tắt hiển thị layer Dream.

Thao tác này sẽ ẩn đi văn bản gốc trong tài liệu, sau đó mình sẽ nhấp vào layer Dream copy để chọn nó và bật hiển thị của layer này lên:

Chọn và bật hiển thị của layer Dream copy.

Layer mới này có chứa văn bản giống hệt layer Dream, tuy nhiên có một điểm khác biệt rất quan trọng đó là mình đã thêm một vài hiệu ứng vào cho nó (một nét vẽ, đổ bóng mờ và hiệu ứng làm vát, nổi. Chúng ta có thể thấy nét màu hồng xung quanh các chữ cái và bóng đổ phía sau chúng. Hiện tại thì hơi khó để nhìn được hiệu ứng vát nổi với dòng chữ đang có màu trắng đồng bộ như này:

Văn bản tương tự nhưng có chèn thêm các hiệu ứng.

Mình sẽ mở danh sách các hiệu ứng trong bảng điều khiển Layers bằng cách nhấp vào mũi tên nhỏ ở bên phải của biểu tượng “fx” để các bạn có thể thấy rằng thực tế mình đã áp dụng ba hiệu ứng Drop Shadow, Bevel và Emboss and Stroke cho văn bản:

Nhấn mở để xem danh sách các hiệu ứng được thêm vào văn bản.

Hãy xem điều gì sẽ xảy ra với layer mới này khi mình giảm Opacity xuống 50% nhé:

Giảm Opacity xuống 50%.

Với việc giảm giá trị Opacity xuống 50% chúng ta đã làm cho mọi thứ trên layer trong suốt ở mức độ 50%. Không chỉ văn bản mà các hiệu ứng áp dụng cho nó cũng đều có mức độ trong suốt là 50%:

Hạ giá trị Opacity và mọi thứ trên layer (bao gồm cả văn bản và hiệu ứng) đều có mức độ trong suốt là 50%.

Cũng không có gì khác so với trước lắm. Mình sẽ đưa giá trị Opacity về 100% như cũ và giảm Fill xuống còn 50%:

Hạ Fill xuống 50%.

Và bây giờ chúng ta sẽ thấy sự khác biệt giữa hai tùy chọn Opacity và Fill. Opacity giảm xuống 50% khiến tất cả mọi thứ trên layer đều có mức độ trong suốt là 50%, tuy nhiên khi hạ Fill xuống 50% thì chỉ có văn bản thay đổi mức độ trong suốt thành 50% còn các hiệu ứng được áp dụng cho văn bản vẫn hiển thị ở mức 100%. Các hiệu ứng không hề bị ảnh hưởng bởi giá trị Fill. Trên thực tế chúng ta đã bắt đầu có thể nhìn thấy hiệu ứng Bevel and Emboss (vát nổi) mà mình đã áp dụng cho văn bản trước đó:

Giá trị Fill chỉ tác động đến văn bản, không làm ảnh hưởng đến các hiệu ứng.

Thử hạ Fill xuống mức 0% xem điều gì xảy ra nào:

Hạ Fill xuống 0%.

Với Fill được đặt thành 0%. Văn bản trở nên hoàn toàn trong suốt nhưng các hiệu ứng vẫn hiển thị 100%. Giá trị của Fill không hề ảnh hưởng đến các hiệu ứng, cho phép người dùng dễ dàng tạo ra một hiệu ứng văn bản thú vị mà Opacity không thể làm được:

Văn bản đã trong suốt hoàn toàn nhưng các hiệu ứng không hề bị ảnh hưởng.

Đây chính là sự khác biệt giữa Opacity và Fill. Khi mà Opacity kiểm soát độ trong suốt của tất cả mọi thứ nằm trên layer thì Fill chỉ ảnh hưởng đến nội dụng thực tế của layer (trong trường hợp của mình thì nó là văn bản), còn các hiệu ứng thì vẫn được PTS coi là tách biệt với nội dung thực tế của layer nên nó vẫn hiển thị 100% và không bị ảnh hưởng bởi giá trị Fill.

Như ban đầu mình đã đề cập thì trong hầu hết các trường hợp khi chúng ta cần giảm độ trong suốt của một layer thì chỉ cần giảm giá trị Opacity xuống. Nhưng nếu đã áp dụng các hiệu ứng cho nó và muốn giữ cho các hiệu ứng này hiển thị 100% thì hãy giữ nguyên giá trị Opacity là 100% và thực hiện giảm giá trị Fill.

 

Hướng Dẫn Căn Chỉnh Và Chia Layer Trong Photoshop

0

CĂN CHỈNH VÀ PHÂN PHỐI LAYER TRONG PHOTOSHOP

Tìm hiểu về tùy chọn căn chỉnh (Align) và phân phối (Distribute), thứ giúp chúng ta dễ dàng và tự động sắp xếp nội dung các layer. Cách sử dụng nhóm layer để căn giữa nhiều layer cùng lúc.

Đây là hình ảnh mình sẽ sử dụng trong bài viết này:

Hình ảnh gốc.

Hiện tại các chữ (mỗi chữ là một khối) nằm rải rác khắp nơi và điều mình muốn là sắp xếp chúng theo mô hình lưới 3×3. Nếu nhìn vào bảng điều khiển Layers, có thể thấy mỗi khối đang nằm trên một layer riêng của nó. Mình sẽ sửa lại tên từng layer dựa theo vị trí mình muốn nó nằm ở trong tài liệu, ví dụ như “Top Left”, “Top Right”, “Bottom Right”…:

Mỗi khối nằm ở một layer riêng biệt.

Làm cách nào để sắp xếp cho các khối bên trong tài liệu thẳng hàng với nhau được đây? Nếu dùng cách kéo thủ công với Move Tool thì có vẻ khá mất thời gian đó. Có một cách tốt và dễ dàng hơn nhiều đó là để cho PTS tự xử lý bằng cách sử dụng các tùy chọn Align (căn chỉnh) và Distribute (phân phối).

Để truy cập vào hai tùy chọn này chúng ta cần chọn Move Tool trước:

Chọn Move Tool.

Sau khi chọn Move Tool, các tùy chọn căn chỉnh và phân phối sẽ xuất hiện dưới dạng một loạt các biểu tượng trên thanh tùy chọn. Hiện tại, các biểu tượng đang ở trạng thái không khả dụng bởi vì mình đang chỉ chọn một layer trong bảng điều khiển mà PTS thì không thể căn chỉnh hay phân phối khi chỉ có một layer được chọn:

Tùy chọn căn chỉnh và phân phối xuất hiện sau khi chọn Move Tool.

Thử chọn nhiều layer xem điều gì sẽ xảy ra nhé:

Layer Top Left đã được chọn.

Mình sẽ chọn thêm layer Top Center và Top Right bằng cách giữ phím Shift rồi nhấp vào layer Top Right. Thao tác này giúp chọn cả ba layer cùng lúc:

Chọn ba layer: Top Left, Top Center, Top Right.

Với nhiều layer được chọn cùng lúc thì bây giờ tùy chọn căn chỉnh và phân phối đã khả dụng. Hãy thử xem xét những tùy chọn này nhé!

Tùy Chọn Căn Chỉnh

Sáu biểu tượng đầu tiên là các tùy chọn căn chỉnh. Từ trái sang phải chúng ta có Align Top Edges (căn chỉnh cạnh phía trên), Align Vertical Centers (căn giữa theo chiều dọc), Align Bottom Edges (căn chỉnh cạnh phía dưới), Align Left Edges (căn chỉnh cạnh trái), Align Horizontal Centers (căn giữa theo chiều ngang) và Align Right Edges (căn chỉnh các cạnh phải):

Sáu tùy chọn đầu tiên là sáu tùy chọn căn chỉnh.

Tùy Chọn Phân Phối

Tiếp theo đó là tùy chọn phân phối, nó sẽ lấy nội dung của nhiều layer và tạo không gian cho chúng bằng nhau. Từ trái sang phải chúng ta có: Distribute Top Edges (phân phối cạnh trên), Distribute Vertical Centers (phân phối tâm dọc, Distribute Bottom Edges (phân phối cạnh dưới), Distribute Left Edges (phân phối cạnh trái), Distribute Horizontal Centers (phân phối tâm ngang) và Distribute Right Edges (phân phối cạnh phải). Lưu ý cần chọn từ ba layer trở lên thì các tùy chọn phân phối mới khả dụng:

Sáu tùy chọn phân phối.

Hãy cùng xem cách sử dụng các tùy chọn này để sắp xếp lại các khối trong tài liệu như thế nào nhé. Như đã thấy từ trước, mình đã chọn ba layer Top Left, Top Center và Top Right. Tạm thời mình sẽ tắt hiển thị các layer khác để sử dụng các tùy chọn căn chỉnh và phân phối (thao tác này để chúng ta dễ dàng kiểm soát những gì đang xảy ra trong tài liệu):

Tắt hiển thị các layer khác.

Giờ thì chỉ còn ba layer hiển thị trên màn hình. Hãy nhớ việc bật/tắt hiển thị các layer chỉ để cho chúng ta dễ dàng quan sát quá trình căn chỉnh và phân phối, không phải việc bật/tắt có liên quan với khả năng sử dụng các tùy chọn này:

Ba layer còn lại trên màn hình.

Điều đầu tiên mình sẽ làm là xếp ba khối này theo chiều ngang dựa trên các cạnh trên cùng của các khối. Để làm điều này hãy nhấp vào tùy chọn Align Top Edges:

Nhấp vào tùy chọn Align Top Edges.

PTS sẽ xem xét ba khối và tìm ra khối nào gần với đầu tài liệu nhất, sau đó di chuyển hai khối còn lại lên trên để căn chỉnh các cạnh trên cùng của cả ba khối:

Ba khối hiện đa được căn chỉnh theo cạnh phía trên.

Bây giờ mình muốn phân phối ba khối theo chiều ngang để giãn đều khoảng cách của chúng thì sẽ nhấp vào tùy chọn Distribute Horizontal Centers:

Nhấn vào tùy chọn Distribute Horizontal Centers.

PTS sẽ tiếp tục xem xét vị trí của các khối sau đó di chuyển khối ở giữa vào vị trí trung tâm tạo ra một khoảng cách bằng nhau giữa ba khối. Chỉ di chuyển khối ở giữa, hai khối ở hai bên vẫn giữ nguyên vị trí:

Các khối được giãn đều khoảng cách bằng nhau.

Vậy là xong ba khối ở trên cùng, giờ mình bật hiển thị thêm layer Middle Left và Bottom Left:

Bật hiển thị thêm hai layer Middle Left và Bottom Left.

Thao tác này sẽ hiển thị thêm hai khối đó trong tài liệu. Khối T màu xanh lam nằm trên layer Middle Left và khối H màu nằm cam nằm trên layer Bottom Left:

Hai khối tiếp theo xuất hiện trên màn hình.

Mình sẽ căn chỉnh cạnh trái của hai khối mới này cùng với cạnh trái của khối P. Điều trước tiên cần làm chính là chọn ba layer này trong bảng điều khiển Layers. Nhấp vào layer Top Left để chọn sau đó nhấn giữ phím Ctrl (Windows) / Command (Macbook) rồi nhấp vào layer Middle Left và Bottom Left. Thao tác này giúp chọn cả ba layer cùng lúc:

Chọn Top Left, Middle Left và Bottom Left.

Sau đó chọn tùy chọn Align Left Edges:

Nhấn vào tùy chọn Align Left Edges.

PTS sẽ xem xét ba khối và tìm ra khối nào gần bên trái nhất, sau đó di chuyển hai khối còn lại sang trái để sắp xếp cho cả ba khối thẳng hàng nhau theo cạnh bên trái:

Căn chỉnh ba khối theo cạnh trái.

Khoảng cách giữa ba khối vẫn cần chỉnh lại, nhưng hãy để một lát nữa nhé. Mình sẽ bật thêm các layer Bottom Center và Bottom Right:

Nhấn vào biểu tượng hiển thị của hai layer Bottom Center và Bottom Right để bật chúng lên.

Thao tác này sẽ hiển thị khối O màu xanh lam (dưới cùng ở giữa) và khối P màu đỏ (dưới cùng bên phải) dọc theo phía dưới:

Hai khối mới phía bên dưới đã xuất hiện.

Mình sẽ chọn ba layer cùng lúc bằng cách nhấn vào layer Bottom Left, sau đó nhấn giữ phím Shift rồi nhấm vào layer Bottom Right. Vậy là cả ba layer đã được chọn:

Chọn ba layer Bottom Left, Bottom Center và Bottom Right.

Bởi vì muốn căn chỉnh các layer này đều theo cạnh dưới cùng nên mình sẽ sử dụng tùy chọn Align Bottom Edges:

Chọn Align Bottom Edges.

PTS sẽ tìm ra khối nào gần nhất với phần dưới cùng của tài liệu sau đó di chuyển hai khối còn lại dịch xuống sao cho thẳng đều với cạnh dưới của khối kia:

Các khối ở dưới đã được căn chỉnh theo cạnh dưới cùng.

Bây giờ khối chữ H ở dưới cùng bên trái đã đúng vị trí, mình sẽ quay lại để chỉnh sửa khoảng cách của các khối dọc bên trái. Nhấn chọn đồng thời ba layer Top Left, Middle Left và Bottom Left:

Chọn ba layer Top Left, Middle Left và Bottom Left cùng lúc.

Rồi nhấp vào tùy chọn Distribute Vertical Centers:

Nhấp vào tùy chọn Distribute Vertical Centers.

PTS sẽ xem xét vị trí của khối trên cùng và dưới cùng sau đó di chuyển khối ở giữa sao cho khoảng cách đều nhau theo chiều dọc:

Ba khối được giãn khoảng cách đều nhau.

Tiếp theo mình sẽ bật layer Middle Right:

Bật layer Middle Right.

Khối chữ S màu xanh đã xuất hiện trên màn hình:

Khối chữ S xuất hiện trên màn hình.

Để xếp các cạnh bên phải của ba khối dọc theo bên phải, trước tiên ta sẽ chọn các layer Top Right, Middle Right và Bottom Right:

Chọn ba layer Top Right, Middle Right và Bottom Right.

Sau đó chọn Align Right Edges:

Chọn Align Right Edges.

PTS sẽ xác định xem khối nào gần với phía bên phải của tài liệu nhất, sau đó di chuyển hai khối còn lại sang phải để sắp xếp cho cả ba khối thẳng đều theo cạnh phải:

Ba khối bên phải đã được căn chỉnh theo cạnh phải.

Để đặt lại khoảng cách giữa ba khói, hãy nhấn vào tùy chọn Distribute Vertical Centers:

Chọn Distribute Vertical Centers.

Ba khối giờ đã được giãn đều khoảng cách:

Khoảng cách của ba khối sau khi nhấn tùy chọn Distribute Vertical Centers.

Cuối cùng mình sẽ bật nốt layer Middle Center:

Bật layer Middle Center.

Thao tác này sẽ bật khối O màu đỏ ở trung tâm lên:

Khối O màu đỏ đã xuất hiện.

Khối ở chính giữa này cần được căn chỉnh với khối ở hai bên của nó, nên mình sẽ chọn ba layer Middle Left, Middle Center và Middle Right:

Chọn ba layer Middle Left, Middle Center và Middle Right.

Sau đó chọn Align Top Edges:

Chọn Align Top Edges.

PTS sẽ di chuyển khối ở giữa dịch lên sao cho cạnh trên của nó bằng với cạnh trên của hai khối T và S. Vậy là đã hoàn thành việc căn chỉnh đúng theo ý muốn của mình nhờ vào các tùy chọn căn chỉnh và phân phối của PTS:

Các tùy chọn căn chỉnh và phân phối giúp cho việc sắp xếp trở nên dễ dàng hơn.

Các khối đã được căn chỉnh và phân bố với nhau tuy nhiên chúng ta cần chỉnh cho thiết kế tổng thể được căn giữa trong tài liệu. Để làm được điều này thì cần di chuyển và căn chỉnh các khối như 1 đơn vị đồng nhất. Vậy thì hãy đặt tất cả các layer này vào một nhóm layer (tham khảo bài viết trước).

Để nhóm các layer này lại với nhau, trước hết cần chọn tất cả các layer. Mình sẽ nahaso vào layer Top Left, nhấn giữ phím Shift rồi nhấn vào layer Bottom Right. Thao tác này sẽ chọn tất cả các layer cùng lúc:

Chọn tất cả các layer.

Với tất cả các layer được chọn, mình sẽ nhấp vào biểu tượng menu ở góc trên cùng bên phải của bảng điều khiển Layers:

Nhấn vào menu.

Sau đó chọn New Group from Layers:

Chọn New Group from Layers.

PTS sẽ mở một hộp thoại yêu cầu đặt tên cho nhóm mới. Mình sẽ đặt là “Blocks” rồi nhấp OK để đóng hộp thoại:

Đặt tên cho nhóm.

Nhìn vào bảng điều khiển Layers, có thể tất hiện tất cả các khối đã được nhóm vào một nhóm có tên gọi “Blocks”:

Các layer được chọn đã được nhóm vào thành một nhóm.

Một công dụng tuyệt vời của nhóm layer ngoài việc giữ cho không gian bảng điều khiển gọn gàng đó là nó cho phép chúng ta di chuyển đồng thời các layer trong nhóm cùng lúc và như một cá thể. Nhấn chọn nhóm Blocks rồi nhấn giữ Shift khi nhấn vào layer Background, thao tác này sẽ chọn cả nhóm Blocks và cả layer Background cùng lúc:

Chọn nhóm Blocks và layer Background cùng lúc.

Như đã tìm hiểu thì layer Background không cho phép thực hiện việc di chuyển nội dụng, cho nên chúng ta chỉ có thể di chuyển nhóm Blocks. Mình sẽ nhấp vào tùy chọn Align Vertical Centers để căn chỉnh chúng vào trung tâm tài liệu:

Chọn Align Vertical Centers.

PTS căn chỉnh các khối trong nhóm Blocks theo chiều dọc với layer Background:

Các khối bên trong nhóm layer được căn chỉnh đồng thời như thể tất cả chúng cùng nằm trên một layer.

Cuối cùng nhấn vào Align Horizontal Centers:

Chọn Align Horizontal Centers.

Thao tác này sẽ căn chỉnh các khối theo chiều ngang so với layer Background (căn giữa thiết kế trong tài liệu):

Nhóm layer giúp chúng ta dễ dàng căn giữa thiết kế khối.

 

Hướng Dẫn Cách Nhóm Các Layer Liên Quan Trong Photoshop

0

PHOTOSHOP LAYERS – LAYER GROUPS

Tìm hiểu về các nhóm layer trong PTS và cách nhóm các layer liên quan lại với nhau giúp cho bảng điều khiển Layers luôn gọn gàng và ngăn nắp. Học cách tạo nhóm layer, thêm layer vào một nhóm, lồng cách nhóm layer vào bên trong các nhóm khác…

Chúng ta đã cùng xem xét về layer trong các bài trước và hiểu được tại sao nó giúp cho mọi thứ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Mình cũng đã hướng dẫn cho các bạn biết những điều cần thiết khi làm việc trong bảng điều khiển Layers cũng như tìn hiểu về layer Background và những gì khác biệt của nó so với các layer thường.

Khi đã trở nên quen thuộc với layer và sử dụng nó trong các quy trình làm việc thì bạn sẽ nhận ra rằng có một khía cạnh quan trọng không kém trong việc làm việc với layer đó là giữ cho nó có trật tự nhất định. Dù bạn đang thực hiện chỉnh sửa hay khôi phục hình ảnh, thiết kế bố cục in hay tạo các hiệu ứng đặc biệt thú vị thì số lượng layer trong tài liệu có thể tăng lên nhanh chóng và nó dễ dàng làm cho bảng điều khiển Layers trở nên lộn xộn.

Chúng ta có thể đổi tên layer bằng những cái tên mô tả và có ý nghĩa hơn mấy cái tên mặc định chung chung của PTS hoặc một cách khác nữa đó là sử dụng các nhóm layer.

Nhóm layer giống như một thư mục ảo trong bảng điều khiển Layers, nơi mà bạn có thể đặt các layer tương tự hay có liên quan tới nhau vào chung một nhóm. Chúng ta có thể mở ra xem bên trong nó có chữa những gì bất kì lúc nào cần thiết. Khi không cần nữa thì hoàn toàn có thể thu nó lại để tiết kiệm không gian diện tích.

Dưới đây là bố cục quảng cáo mình đang mở trên mang hình phục vụ cho việc chỉnh sửa hình ảnh cho một khu vườn ảo diệu:

Bố cục quảng cáo.

Nhìn vào bảng điều khiển Layers có thể thấy mặc dù mình đã thực hiện việc đổi tên layer nhưng trong nó vẫn còn khá lộ xộn vì có quá nhiều layer:

Bảng điều khiển Layers.

Có khá nhiều layer trong tài liệu, và thực tế còn nhiều layer hơn so với những gì chúng ta đang nhìn thấy. Chỉ cần nhìn vào phần trên cùng của danh sách các layer này, bạn sẽ nhận ra mình đã thêm vào đây một nhóm layer với tên gọi “Logo”. Nhờ vào biểu tượng thư mục ở phía bên trái Logo mà ta có thể phân được đây là nhóm layer:

Nhóm layer có tên là Logo.

Mở Và Đóng Nhóm Layer

Mình tiếp tục thêm vài layer vào nhóm này tuy nhiên thì bởi vì nó đang đóng nên chúng ta không thể nhìn thấy các layer bên trong nhóm. Để mở nhóm layer ra chỉ cần nhấn vào biểu tượng hình tam giác nho nhỏ nằm ngay bên trái biểu tượng thư mục:

Nhấn vào biểu tượng hình tam giác.

Thao tác này sẽ mở nhóm layer ra và hiển thị các layer nằm bên trong nó. PTS sắp xếp cho các layer thuộc trong nhóm sẽ nằm thụt vào một chút so với lề. Ở đây chúng ta có thể thấy nhóm Logo có chứa năm layer là: “Bud’s”, “GARDEN”, “CENTER”, “leaves” và “Logo background”. Để đóng nhóm layer chỉ cần nhấp lại một lần nữa vào biểu tượng hình tam giác:

Năm layer thuộc nhóm layer Logo.

Đoán thử xem lý do vì sao mình đặt năm layer này vào cùng một nhóm có tên gọi Logo nào? Bởi vì đó chính là các layer tạo nên thiết kế “Bud’s Garden Center” ở góc trên cùng bên trái của tài liệu:

Năm layer trong nhóm layer Logo tạo thành logo ở góc trái tài liệu.

Một trong những lợi thế khác của việc sử dụng nhóm layer đó là ngoài việc giữ cho mọi thứ được ngăn nắp thì chúng ta còn cso thể dễ dàng bật/tắt nhiều layer cùng lúc trong tài liệu. Thông thường để bật/tắt một layer chúng ta sẽ phải nhấn vào biểu tượng hiển thị của nó. Ta cũng có thể làm điều này đối với nhóm layer. Mỗi nhóm sẽ có một biểu tượng khả năng hiển thị riêng. Tạm thời mình sẽ tắt hiển thị nhóm Logo bằng cách nhấn vào biểu tượng hình con mắt:

Nhấn vào biểu tượng con mắt.

Thao tác này sẽ ngay lập tức ẩn đi năm layer trong nhóm. Chúng ta chỉ cần nhấn vào đó 1 lần nữa để hiểu thị lại nẳm layer này:

Năm layer tạo nên logo hiện đã bị ẩn đi.

Tạo Nhóm Layer Mới

Cách nhanh và dễ nhất để tạo một nhóm mới đó là nhấp vào biểu tượng New Layer Group ở cuối bảng điều khiển Layers (biểu tượng giống như thư mục):

Nhấn vào biểu tượng New Layer Group.

PTS sẽ tạo ngay một nhóm mới với cái tên mặc định chung chung (ví dụ “Group 1”) và đặt nó ngay trên nhóm hay layer hiện đang được chọn. Bởi vì mình đang chọn nhóm “Logo” nên PTS đã đặt nhóm mới được tạo ngay bên trên nó:

Nhóm mới đã được tạo.

Cách này sẽ chỉ tạo một nhóm trống mà không bao gồm sẵn layer nào bên trong nó. Để đặt các layer vào trong nhóm, ta cần chọn và kéo chúng vào theo cách thủ công. Mình sẽ nhấn Ctrl+Z (Windows) / Command+Z (Macbook) để hoàn tác việc tạo nhóm mới và xóa nó.

Hãy cùng thử một cách tốt hơn nhé. Ví dụ mình muốn nhóm các layer hiển thị địa chỉ và giờ hoạt động. Tổng cộng có tám layer cần chọn. Mình sẽ bắt đầu bằng cách nhấp vào layer trên cùng mà mình cần (“Open Year ‘Round”):

Nhấp vào layer trên cùng.

Tiếp theo mình sẽ nhấn giữ phím Shift và nhấp vào layer cuối cùng. Thao tác này sẽ giúp chọn cả hai layer cùng với các layer nằm giữa nó. Vậy là đã chọn được tám layer mình cần. Lưu ý trường hợp này cả tám layer nằm liền nhau, đối với các layer nằm tách xa nhau và có các layer khác xen kẽ giữa chúng thì thường sẽ có những sự cố xảy ra với bố cục của bạn. Nhóm layer sẽ hoạt động tốt nhất với các layer nằm liền kề nhau:

Nhấn giữ phím Shift và nhấp vào layer cuối cùng.

Với các layer đã được chọn, hãy nhấn vào biểu tượng menu ở góc trên cùng bên phải bảng điều khiển Layers (ở những phiên bản cũ thì biểu tượng menu trông giống một mũi tên nhỏ):

Nhấn vào biểu tượng menu.

Chọn New Group from Layers:

Chọn New Group from Layers.

PTS sẽ mở ra một hộp thoại yêu cầu đặt tên cho nhóm mới. Mình sẽ đặt là “Address / Hours”. Nhấp vào OK khi hoàn tất để đóng hộp thoại:

Nhập tên cho nhóm mới rồi nhấn OK.

Hiện giờ trong bảng điều khiển Layers đã xuất hiện thêm một nhóm mới có tên “Address / Hours” nằm ngay bên dưới nhóm “Logo”. Như mình đã đề cập trước đó, nhóm mới theo mặc định sẽ được đóng lại nên hiện tại các layer nằm trong nó không hiển thị trên bảng:

Các layer đã chọn hiện được nhóm vào trong nhóm mới.

Nếu muốn xem các layer trong nhóm, hãy nhấp vào biểu tượng hình tam giác để hiển thị danh sách các layer nằm trong nhóm:

Nhấn vào biểu tượng hình tam giác để mở nhóm layer, hiển thị các layer nằm trong nó.

Giờ mình sẽ đóng nhóm lại để tiết kiệm không gian bảng điều khiển:

Nhóm layer giúp cho bảng điều khiển Layer ngăn nắp và dễ làm việc hơn.

Tương tự như nhóm Logo, giờ chúng ta có thể tắt hiển thị toàn bộ các layer trong nhóm “Address / Hours” bằng cách nhấp vào biểu tượng hiển thị của nhóm:

Nhấn vào biểu tượng hiển thị của nhóm “Address / Hours”.

Ngap lập tức các thông tin ở góc dưới cùng bên trái trong tài liệu đã bị tắt, chúng ta hoàn toàn có thể bật lại bất kì lúc nào bằng cách nhấp vào biểu tượng hiển thị của nhóm:

Thông tin về địa chỉ và giờ mở cửa đã bị ẩn đi.

Ngoài việc tắt/bật đồng thời các layer trong cùng một nhóm ra chúng ta còn có thể di chuyển tất cả chúng cùng một lúc bằng Move Tool, hay thay đổi kích thước và định hình chúng bằng Free Transform. Chúng ta thậm chí còn có thể thêm layer mask cho cả group. Tuy nhiên những điểu này nằm ngoài phạm vi của bài biết nên mình sẽ không nói sâu về nó mà chỉ tập trung vào mục đích và lợi ích chính của nhóm layer để giữ cho các layer và bảng điều khiển có tổ chức hơn.

Xóa Layer Ra Khỏi Nhóm

Nếu cần bỏ nhóm các layer sau khi đã nhóm chúng lại với nhau, chúng ta chỉ cần nhấp chuột phải (Windows) hoặc Control nhấp chuột (Macbook) vào bất kì chỗ nào trong nhóm trong bảng điều khiển Layers:

Nhấp chuột phải (Windows) hoặc Control nhấp chuột (Macbook) vào bất kì nhóm nào trong bảng điều khiển Layers.

Sau đó chọn Ungroup Layers:

Chọn Ungroup Layers.

Thao tác này sẽ bỏ việc nhóm các layer lại và đưa chúng về đúng hiện trạng ban đầu, nhóm vừa lập khi nãy cũng ngay lập tức bị xóa:

Các layer không còn được nhóm với nhau nữa.

 

Nhóm Các Nhóm Layer Lại Thành Một Nhóm Mới

Không chi cho phép người dùng nhóm các layer lại với nhau, PTS còn cho phép nhóm các nhóm layer lại với nhau và đặt chúng vào trong một nhóm mới khác. Nó cũng không khác gì so với nhóm layer riêng lẻ. Đầu tiên chúng ta chọn nhóm mà chúng ta cần. Mình sẽ chọn “Address / Hours”, sau đó nhấn giữ Shift rồi chọn nhóm “Logo”. Thao tác này sẽ giúp chọn hai nhóm cùng lúc:

Chọn hai nhóm và nhóm chúng lại thành một nhóm mới.

Nhấp vào biểu tượng menu ở góc phải bảng điều khiển Layers:

Nhấn vào biểu tượng menu.

Chọn New Group from Layers. Mặc dù nó có nghĩa là tạo nhóm mới từ layer, nhưng sự thực là chúng ta đang tạo một nhóm mới từ các nhóm khác:

Chọn New Group from Layers.

Mình sẽ đặt tên cho nó là “Left Column” vì hai nhóm “Logo” và “Address / Hours” đều nằm ở ophias bên trái của bố cục:

Đặt tên cho nhóm.

Nhấn OK để đóng hộp thoại và PTS sẽ ngay lập tức tạo nhóm có tên “Left Column”. Nếu nhấn mở nhóm mới này ta sẽ thấy hai nhóm Logo” và “Address / Hours” hiện đang nằm trong nhóm này:

Một nhóm mới được tạo bao gồm hai nhóm hiện có.

Việc xóa nhóm cũng thực hiện tương tự như việc hủy nhóm có chứa các layer riêng lẻ. Chỉ cần nhấp chuột phải (Windows) hoặc Control nhấp chuột (Macbook) vào bất kì chỗ này trong nhóm rồi chọn Ungroup Layers:

Bỏ nhóm.

Và giờ chúng ta lại quay về với hai nhóm riêng biệt:

Bảng điều khiển Layers sau khi bỏ nhóm.

Để hoàn tất việc sắp xếp bảng điều khiển Layers, mình sẽ nhanh chóng chọn tất cả các layer tạo nên phần trung tâm của bố cục đó là “Huge Selection!” và “Huge Savings!”:

Chọn những layer cấu tạo nên phần trung tâm của bố cục.

Nếu bạn thích dùng phím tắt hơn là các lệnh menu thì có một cách tạo nhóm từ các layer đã chọn một cách nhanh chóng đó là nhấn Ctrl+G (Windows) / Command+G (Macbook). PTS sẽ lập tức đặt các layer vào một nhóm mặc gì tên nhóm sẽ được đặt theo mặc đinh và chung chung thay vì bạn có thể tự đặt tên cho nhóm như cách kia. Ở đây các layer mình chọn đã được nhóm vào một nhóm mới có tên “Group 1”:

Nhấn Ctrl+G (Windows) / Command+G (Macbook) để tạo nhóm từ các layer một cách nhanh chóng.

Muốn dùng phím tắt để bỏ nhóm thì ấn Shift+Ctrl+G (Win) / Shift+Command+G (Mac):

Để đổi tên nhóm thì chỉ cần nhấp đúp trực tiếp vào tên của nhóm trong bảng điều khiển Layers rồi nhập tên mới giống như khi đổi tên cho một layer bình thường. Mình sẽ đặt tên là “Selection / Savings”. Nhấn Enter (Windows) / Return (Macbook) để xác nhận:

Đổi tên cho nhóm cũng tương tự như đổi tên cho layer.

 

CÁCH MỞ NHIỀU ẢNH DƯỚI DẠNG LAYER TRONG PHOTOSHOP

0

MỞ NHIỀU ẢNH DƯỚI DẠNG LAYER TRONG PHOTOSHOP

Tìm hiểu cách mở nhiều hình ảnh cùng lúc vào tài liệu trong PTS, với mỗi ảnh là một layer riêng. Cách thêm nhiều hình ảnh vào tài liệu khi cần.

Cho dù ghép ảnh, tạo ảnh ghép hay thiết kế bố cục thì chúng ta thường cần mở nhiều ảnh vào cùng một tài liệu trong PTS. Mỗi ảnh cần phải nằm ở một layer riêng của chính nó. Nhưng trong PTS khi mở nhiều ảnh thì mỗi ảnh sẽ nằm ở một tài liệu của riêng nó và người dùng cần phải di chuyển hình ảnh từ tài liệu này sang tài liệu khác.

Tuy nhiên có thể dùng lệnh Load Layers into Stack để mở nhiều ảnh vào một tài liệu cùng lúc. Người dùng có thể thêm nhiều tệp vào tài liệu hơn khi cần bằng lệnh Place Embedded. Trong bài hướng dẫn này mình sẽ hướng dẫn cho các bạn cách hoạt động cả hai tính năng này. Chúng ta sẽ cùng xem xét một số tùy chọn trong Preferences giúp cho việc đưa hình ảnh vào tài liệu nhanh hơn. Và cuối cùng mình sẽ trộn các hình ảnh lại thành một hiệu ứng phơi sáng kép đơn giản.

Mặc dù trong bài viết này mình sử dụng Photoshop 2020 nhưng nó phù hợp với tất cả các bản Photoshop còn lại.

Cách Mở Nhiều Ảnh Dưới Dạng Layer Trong PTS

Hãy cùng bắt đầu bài hướng dẫn này với việc tìm hiểu cách mở nhiều hình ảnh dưới dạng layer vào cùng một tài liệu trong PTS nhé. Chúng ta sẽ sử dụng lệnh Load Files into Stack. Lệnh này không chỉ tải hình ảnh mà còn tạo tài liệu PTS cho bạn luôn.

Bước 1: Chọn “Load Files into Stack”

Đi tới menu File, chọn Scripts sau đó chọn Load Files into Stack:

File > Scripts > Load Files into Stack.

Bước 2: Chọn Ảnh

Trong hộp thoại Load Layers, ở phần Use chúng ta sẽ chọn Files hoặc Folder. Tùy chọn Files sẽ cho phép người dùng chọn các hình ảnh riêng lẻ trong một thư mục, còn Folder sẽ tải những hình ảnh trong thư mục mà bạn chọn. Ở đây mình sẽ chọn Files.

Sau đó nhấn vào Browse:

Tại mục Use chọn Files hoặc Folder rồi nhấn Browse.

Tài Liệu Đám Mây Hoặc Tệp

Nếu đang sử dụng Photoshop CC 2020 hoặc những phiên bản gần đây, PTS sẽ hỏi bạn muốn tải tài liệu trên lưu trữ đám mây hay là các tệp được lưu trữ trên máy tính của bạn. Ở đây mình sẽ chọn On your computer:

Chọn tải ảnh trong máy tính.

Chọn Ảnh

Sau đó điều hướng đến thư mục có chứ hình ảnh và chọn file bạn cần mở. Mình sẽ chọn cả ba hình ảnh trong thư mục.

Chú ý ba hình ảnh của mình hiện có tên là “texture.jpg”, “portrait.jpg” và “sunset.jpg”. PTS sẽ sử dụng tên này làm tên layer vì thế đổi tên cho các ảnh tại đây là một lựa chọn khá hoàn hảo.

Khi đã chọn hình ảnh, nhấp vào Open:

Chọn ảnh để mở trong PTS.

Trở lại với hộp thoại Load Layers, tên của mỗi tệp sẽ xuất hiện trong danh sách:

Tên của các hình ảnh sẽ được tải lên.

Xóa Ảnh

Nếu lỡ chọn nhầm ảnh và muốn xóa nó đi, chỉ cần nhấp vào tên của nó trong danh sách sau đó nhấn Remove:

Xóa ảnh không muốn dùng đến.

Bước 3: Nhấn OK

Không tích vào hai tùy chọn ở cuối hộp thoại là “Attempt to Automatically Align Source Images” và “Create Smart Object after Loading Layers”.

Sau đó nhấn OK để tải hình ảnh vào PTS:

Nhấn OK.

PTS sẽ tạo tài liệu mới và nhanh chóng đặt các hình ảnh bạn đã chọn vào đó:

Tài liệu mới đã được tạo.

Trong bảng điều khiển Layer lúc này mỗi hình ảnh đã chọn sẽ xuất hiện trên một layer riêng và tên layer được đặt theo tên của chính hình ảnh đó:

Mỗi ảnh nằm ở một layer riêng biệt.

Người dùng có thể bật hoặc tắt từng layer bằng cách nhấp vào biểu tượng hiển thị (hình con mắt) của nó:

Nhấn vào biểu tượng hình con mắt để hiển thị/ẩn layer.

Cách Đặt Hình Ảnh Vào Tài Liệu PTS

Bây giờ hãy cùng tìm hiểu cách thêm nhiều hình ảnh vào tài liệu bằng lệnh Place Embedded.

Trong bảng điều khiển Layer, mình sẽ xóa layer “portrait” bằng cách kéo nó vào thùng rác:

Xóa layer.

Bước 1: Chọn “Place Embedded”

Để thêm hình ảnh mới vào tài liệu, hãy đi tới menu File chọn Place Embedded.

Ngoài ra còn có một lệnh tương tự là lệnh Place Linked (lệnh này sẽ chỉ liên kết đến các tệp lưu trên máy tính). Nhưng để tải hình ảnh trực tiếp vào tài liệu thì hãy chọn Place Embedded:

File > Place Embedded.

Bước 2: Chọn Ảnh

Chọn hình ảnh muốn thêm vào tài liệu rồi nhấn Place. Mình sẽ chọn ảnh portrait:

Chọn ảnh để mở trong tài liệu.

Bước 3: Xác Nhận Và Đóng Free Transform

Trước khi đặt hình ảnh vào tài liệu, PTS sẽ mở lệnh Free Transform để người dùng có thể thay đổi kích thước hình ảnh nếu cần thiết:

PTS mở lệnh Free Transform trước khi đặt ảnh vào tài liệu.

Trong hầu hết các trường hợp, bạn chỉ cần nhấp vào dấu tích trên thanh tùy chon để xác nhận kích thước hiện tại và đóng Free Transform. Hoặc nhấn phím Enter (Windows) / Return (Macbook):

Nhấn dấu tích.

Hình Ảnh Được Đặt Như Một Đối Tượng Thông Minh

Hình ảnh được PTS đặt vào tài liệu giờ đây xuất hiện trong bảng điều khiển Layer không phải như một layer thông thường mà nó được coi là một đối tượng thông minh (được bieeurt hị bằng biểu tượng ở phía dưới bên phải của hình thu nhỏ):

PTS đặt hình ảnh vào tài liệu và coi nó như một đối tượng thông minh.

Được coi là đối tượng thông minh thì nghe có vẻ cũng khá là quyền lực đấy nhưng nó lại có những hạn chế và hạn chế lớn nhất chính là không thể chỉnh sửa trực tiếp.

Ví dụ, hãy thử nhấn chọn Rectangular Marquee Tool:

Chọn Rectangular Marquee Tool.

Sau đó kéo để chọn một vùng xung quanh đôi mắt của người phụ nữ:

Chọn một vùng trên ảnh được đặt là đối tượng thông mình.

Mình sẽ thử đảo ngược khu vực đã chọn này bằng cách đi tới menu Choose rồi chọn Inverse:

Select > Inverse.

Sau đó xóa mọi thứ xung quanh lựa chọn ban đầu bằng cách nhấn phím Backspace (Windows) / Delete (Macbook).

Thay vì xóa một phần của hình ảnh, PTS sẽ hiển thị cảnh báo rằng nó không thể thực hiện yêu cầu bởi không thể chỉnh sửa trực tiếp đối tượng thông mình. Nhấn OK để xác nhận:

PTS không thể chỉnh sửa đối tượng thông minh.

Cách Chuyển Đổi Từ Đối Tượng Thông Minh Về Layer Thường

Đôi khi việc hình ảnh được mở trong tài liệu như một đối tượng thông minh lại là điều mà bạn không hề mong muốn. Trong trường hợp đó chỉ cần thực hiện việc chuyển đổi để nó từ đối tượng thông minh thành một layer bình thường.

Nhấn chuột phải (Windows) / Control nhấp chuột (Macbook) vào vị trí bất kì trong vùng màu xám trống bên cạnh tên của đối tượng thông minh:

Nhấn chuột phải (Windows) / Control nhấp chuột (Macbook).

Sao đó chọn Rasterize Layer trong menu:

Chọn Rasterize Layer.

Biểu tượng đối tượng thông minh sẽ biến mất và giờ đây chúng ta đã có một layer hoàn toàn bình thường:

Biểu tượng thông minh đã biến mất.

Nhấn Backspace (Windows) / Delete (Macbook) và PTS sẽ xóa vùng được chọn ngay lập tức:

Vùng được chọn đã bị xóa sau khi chuyển đổi từ đối tượng thông minh thành layer thường.

Cách Đặt Hình Ảnh Vào PTS Nhanh Hơn

Sau khi đã nắm được cách đặt hình ảnh vào tài liệu thì bây giờ chúng ta sẽ xem xét một số tùy chọn trong Preferences để giúp cho việc đặt hình ảnh trở nên nhanh hơn.

Đi tới menu Edit (Windows) / Photoshop (Macbook). Sau đó chọn Preferences rồi chọn General:

Edit (Windows) / Photoshop (Macbook) > Preferences > General.

Chọn Skip Transform when Placing

Để ngăn PTS mở Free Transform mỗi khi đặt ảnh, hãy chọn Skip Transform when Placing:

Chọn Skip Transform when Placing.

Tắt Always Create Smart Objects when Placing

Tắt tùy chọn Always Create Smart Objects when Placing để ngăn không cho PTS tự động chuyển đổi hình ảnh thành đối tượng thông minh. Bạn hoàn toàn có thể tự chuyển đổi một layer thường thành đối tượng thông mình bằng các h thủ công khi cần thiết:

Bỏ chọn Always Create Smart Objects when Placing.

Tắt Resize Image During Place

Một tùy chọn nữa cần lưu ý đó là khi bạn đặt một hình ảnh vào tài liệu vào hình ảnh đó lớn hơn kích thước khung thì PTS sẽ tự động thay đổi kích thước của hình ảnh sao cho phù hợp với khung. Nói đơn giản là hình ảnh của bạn sẽ bị thu nhỏ lại.

Nếu như không muốn điều này xảy ra và muốn tự chủ động thay đổi kích thước bằng cách sử dụng Free Transfrom thì hãy bỏ chọn Resize Image During Place. Sau khi hoàn tất hãy nhấn OK để đóng hộp thoại Preferences:

Tùy chọn Resize Image During Place.

Trộn Các Layer Để Tạo Độ Phơi Sáng Kép

Chúng ta vừa học cách dùng lệnh Load Files into Stack để tải nhiều hình ảnh vào tài liệu PTS cùng lúc và cách dùng lệnh Place Embedded để thêm nhiều ảnh hơn. Bây giờ mình sẽ hướng dẫn thêm cho các bạn cách để nhanh chóng kết hợp ba hình ảnh với nhau để tạo hiệu ứng phơi sáng kép đơn giản.

Mình đang bắt đầu với ảnh chân dung của cô gái (layer poirtrait ngay đầu tiên trong bảng điều khiển Layer):

Ảnh poitrait.

Di Chuyển Layer Sunset Lên Trên Layer Poitrait

Trong bảng điều khiển Layer, hãy nhấn vào layer sunset và kéo nó lên trên layer poitrait:

Kéo layer sunset lên trên.

Và bây giờ ta có kết quả như sau:

Ảnh sunset. (Nguồn: Adobe Stock)

Đổi Blend Mode

Để hòa quyện hai ảnh poitrait và sunset mình sẽ thay đổi Blend Mode của layer sunset từ Normal thành Screen:

Đổi Blend Mode.

Chế độ Screen sẽ giữ cho vùng trắng của bức ảnh chân dung được giữ nguyên và hiển thị khung cảnh hoàng hôn ở các vùng tối hơn:

Kết quả sau khi áp dụng Screen.

Di Chuyển Layer Texture Lên Trên Layer Sunset

Bây giờ mình sẽ di chuyển layer Texture lên trên layer Sunset:

Kéo layer Texture lên trên layer Sunset.

Dưới đây là kết quả:

Ảnh Texture. (Nguồn: Adobe Stock)

Thay Đổi Blend Mode và Giảm Opacity

Để ẩn các cùng tối của layer Texture và chỉ giữ lại vùng sáng ta lại thay đổi Blend Mode của nó thành Screen, giảm Opacity xuống còn 70%:

Thay đổi Blend Mode và Giảm Opacity.

Kết quả cuối cùng sau khi thực hiện các thay đổi:

Kết quả sau khi thay đổi Blend Mode và giảm Opacity.

Hợp Nhất Các Layer Vào Thành Một Layer Mới

Cuối cùng để tạo thêm một chút độ tương phản cho hiệu ứng, mình sẽ hợp nhất cả ba layer vào thành một layer mới bằng cách nhấn Shift+Ctrl+Alt+E (Windows) / Shift+Command+Option+E (Macbook):

Kết hợp ba layer vào làm một.

Tăng Độ Tương Phản

Đi tới menu Image rồi chọn Auto Contrast để chỉnh tăng tương phản:

Image > Auto Contrast.

Và đây là kết quả cuối cùng:

Kết quả cuối cùng.

 

Cách Tạo Và Lưu Layer Background mới Trong Photoshop

0

ACTION TẠO LAYER BACKGROUND TRONG PHOTOSHOP

Tìm hiểu cách tạo một layer Background mới cho tài liệu và cách lưu các bước để tiết kiệm thời gian.

Chúng ta đã cùng tìm hiểu về layer Background của PTS và lý do tại sao nó lại khác so với các layer bình thường. Đó là vì nó đóng vai trò làm nền cho tài liệu vì thế nên có một số thứ PTS không cho phép người dùng thực hiện với layer này. Điều quan trọng nhất chính là chúng ta không thể di chuyển nội dung của layer Background, hay di chuyển các layer khác xuống dưới layer này và bởi vì nó không hỗ trợ độ trong suốt nên người dùng không thể xóa bất kỳ pixel nào ra khỏi layer Background.

Nếu bạn đang thực hiện công việc chỉnh sửa hình ảnh (điều chỉnh độ phơi sáng (exposure) và độ tương phản (contrast), hiệu chỉnh màu sắc, xóa các nhược điểm trên da…) thì sẽ không bị hạn chế bởi giới hạn của layer Background. Tuy nhiên nếu muốn tạo hiệu ứng ảnh, ghép nhiều ảnh với nhau hoặc làm bất cứ thao nào nào nhằm cần kiểm soát nhiều hơn đối với ảnh ban đầu thì đó lại là một vấn đề đối với layer Background.

Hãy cùng xem một ví dụ đơn giản nhé. Đây là hình ảnh mình tải từ Adobe Stock:

Mở ảnh bất kì.

Chỉ cần chúng ta mở ảnh, PTS sẽ ngay lập tức đặt nó làm layer Background:

Hình ảnh được đặt thành layer Background.

Giả sử bây giờ mình muốn hình ảnh này xuất hiện bên trên nền trắng mà trong đó nền trắng này đóng vai trò là đường viền xung quanh hình ảnh thì sao? Nghe thì có vẻ dễ nhưng vấn đề là nó đang làm nhiệm vụ của một lớp nền, vậy thì làm sao để đặt một layer khác xuống bên dưới nó? Câu trả lời tất nhiên là không thể. PTS sẽ không cho phép chúng ta đặt bất kì một layer nào bên dưới layer Background.

Vậy nếu như bây giờ mình muốn thêm chút đổ bóng cơ bản phía dưới hình ảnh thì sao? Vẫn là vấn đề giống phía trên. Chúng ta cần một cái gì đó nằm dưới nó để có thể thấy được bóng, nhưng tất nhiên là PTS không hề cho phép người dùng đặt bất cứ thứ gì bên dưới layer Baclground.

Trên thực tế, hãy nhìn vào biểu tượng “fx” (biểu tượng Layer Styles) ở cuối bảng điều khiển Layers. Đây là nơi chúng ta thường nhấp vào để thêm bóng đổ hay bất kì hiệu ứng nào khác, tuy nhiên hiện tại nó đang có màu xám (không khả dụng). PTS hoàn toàn không cho phép chúng ta thêm các hiệu ứng vào layer Background.

Biểu tượng Layer Styles không khả dụng.

Vậy giải pháp là gì? Đầu tiên chúng ta cần đổi layer Background thành một layer bình thường. Bằng cách này chúng ta hoàn toàn kiểm soát được hình ảnh và có thể làm bất cứ điều gì với nó. Và điều thứ hai đó là cần tạo một layer Background mới từ đầu và đặt nó xuống bên dưới hình ảnh.

Để thực hiện được hai điều này rất đơn giản tuy nhiên cũng vẫn hơi mất thời gian. Vì vậy việc chúng ta cần làm là lưu chúng dưới dạng action thay vì thực hiện các bước theo cách thủ công.

Vậy action là gì? Trong PTS, action là một chuỗi các bước được lưu lại. Người dùng chỉ cần tạo một action mới và lưu lại các bước của mình. Sau đó, bất cứ khi nào cần thực hiện lại các bước tương tự thì thay vì phải thực hiện thủ công từ đầu đến cuối chúng ta chỉ cần chọn action và thế là PTS sẽ thực hiện các công việc đó cho bạn. Trong trường hợp của mình, bởi vì mình gh lại các bước để tạo một layer Background mới, nên trong tương lai mình chỉ cần nhấn vào action là có thể nhanh chóng tạo một layer Background mới ngay lập tức.

Cách Tạo Action Tạo Layer Background

Bước 1: Kiểm Tra Màu Nền

Khi tạo một layer Background mới thì PTS sẽ lấp đầy layer này bằng màu Background hiện tại. Vì vậy trước khi tiếp tục, hãy kiểm tra và đảm bảo rằng màu nền hiện tịa đang là màu mà chúng ta cần để tránh kết quả không mong muốn.

Chúng ta hoàn toàn có thể thấy màu Foreground và Background ở trong mẫu màu cuối Toolbar. Theo mặc định, PTS đặt Foreground thành màu đen và Background là màu trắng. Vì màu trắng là màu phổ biển nhất nên những màu mặc định này hoạt động khá tốt.

Nếu hai màu Foreground và Background đang được đặt thành những màu khác, hãy nhấn vào phím D để đặt lại chúng về mặc định:

Màu Foreground và Background.

Nếu muốn tô lớp nền của mình thành màu đen thay vì trắng, trước tiên nhấn vào D để đặt lại Foreground và Background về mặc định. Sau đó nhấn X để hoán đổi, thao tác này sẽ đặt màu Baclground thành màu đen:

Nhấn X để hoán đổi giữa màu Foreground và Background.

Nhấn X lần nữa để chuyển chúng về cài đặt mặc định. Ở đây mình sẽ chuyển nó về màu trắng để đúng với mục đích sử dụng của mình. Hãy luôn nhé kiểm tra màu Background trước khi tạo layer Background nhé.

Bước 2: Mở Bảng Action

Để ghi lại hành động, chúng ta cần sử dụng bảng Actions của PTS. Khác với bảng điều khiển Layers, bảng Actions không phải là bảng điều khiển được mở theo mặc định vì thế người dùng cần phải tự mở nó.

Đi tới menu Window rồi chọn Actions. Dấu tích bên cạnh tên của bảng điều khiển cho biết bảng đó đang được mở trên màn hình, nếu không thấy dấu kiểm hãy nhấn vào tên của bảng để chọn nó:

Window > Actions.

Thao tác này mở ra bảng điều khiển Action. Trong đây bao gồm các action mặc định với những tên gọi được đặt một cách khéo léo. Chúng ta có thể vào Default Actions để xem bên trong nó có chứa những action nào bằng cách nhấn vào biểu tượng hình tam giác ở bên trái của biểu tượng thư mục nhỏ. Nhấp lại một lần nữa để thu gọn danh sách lại:

Xem các action mặc định của PTS.

Bước 3: Tạo Một Bộ Action Mới

Chúng ta sẽ tạo action của riêng mình và thêm nó vào cùng với các action mặc định của PTS. Một action giống như một thư mục mà bên trong nó có chứa các hành động. Việc tạo các nhóm action khác nhau cho phép người dùng gộp chung những action có liên quan đến nhau.

Để tạo một bộ action mới, nhấn vào biểu tượng New Set (biểu tượng hình thư mục) ở cuối bảng điều khiển Actions:

Nhấn vào biểu tượng New Set.

Thao tác này mở ra hộp thoại New Set nơi chúng ta sẽ đặt tên cho bộ action. Bạn có thể đặt tên tùy thích theo ý riêng của bạn, ở đây mình sẽ đặt là “My Actions”. Sau đó nhấn OK để đóng hộp thoại:

Đặt tên.

Bộ action mới này sẽ xuất hiện bên dưới Default Actions trong bảng Actions:

Bộ action mới.

Bước 4: Tạo Action Mới

Nhấp vào biểu tượng New Action ở ngay phía bên của của biểu tượng New Set để tạo action mới:

Nhấn vào biểu tượng New Action.

Thao tác này sẽ mở ra hộp thoại New Action. Mình sẽ đặt tên cho nó là “New Background Layer”. Sau đó hãy đảm bảo tùy chọn Set (viết tắt của Set Action) ngay bên dưới đang hiển thị bộ action mà bạn vừa tạo để đảm bảo rằng action sẽ được đặt vào đúng nơi:

Hộp thoại New Action.

Bước 5: Nhấn “Record”

Sau khi đã sẵn sàng, nhấn Record để đóng hộp thoại và bắt đầu lưu lại hành động:

Nhấn vào Record.

Nếu nhìn lại trong bảng điều khiển Actions, chúng ta sẽ thấy biểu tượng ghi (màu đỏ) đã được kích hoạt, báo cho chúng ta biết hiện tại nó đang trong chế độ Ghi:

PTS hiện đang trong chế độ ghi.

Từ bây giờ, PTS sẽ ghi lại tất cả các bước chúng ta thực hiện. Đừng lo lắng về việc mất bao lâu để hoàn thành các bước. Ghi lại một action trong PTS không giống như việc chúng ta đi quay phim, nó không tính theo thời gian thực mà chỉ ghi nhớ lại các bước bạn thực hiện, yếu tố thời gian không tác động đến nó. Vì thế cứ thoải mái nhé!

Bước 6: Chuyển Đổi Layer Background Thành Một Layer Bình Thường

Việc đầu tiên cần làm là chuyển đổi layer Background thành một layer bình thường. Hãy đi tới menu Layer rồi chọn New, sau đó chọn Layer from Background:

Layer > New > Layer from Background.

Thao tác này sẽ mở ra hộp thoại New Layer. Tên layer mới là “Layer 0”. Nhấn OK để đóng hộp thoại:

Hộp thoại New Layer.

Nhìn vào bảng điều khiển Layers, có thể thấy bây giờ không còn layer Background khi nãy nữa. Mà thay vào đó là “Layer 0”:

Layer Background đã được chuyển đổi thành một layer bình thường.

Bước 7: Thêm Một Layer Mới

Tiếp theo chúng ta sẽ thêm một layer mới để biến nó trở thành layer Background mới cho tài liệu. Nhấp vào biểu tượng New Layer ở cuối bảng điều khiển:

Nhấn vào biểu tượng New Layer.

PTS sẽ thêm một layer trống mới có tên là “Layer 1”:

Layer trống mới xuất hiện trong bảng điều khiển.

Bước 8: Chuyển Layer Mới Này Thành Layer Background

Hãy chuyển đổi layer mới này thành một layer nền. Quay lại menu Layer, chọn New rồi chọn Background from Layer:

Layer > New > Background from Layer.

Có một vài điều sẽ xảy ra. Ngay sau khi chuyển đổi layer mới này thành layer Background, PTS sẽ tự động di chuyển nó xuống phía dưới hình ảnh trong bảng điều khiển Layers. Đó chính là quy tắc về layer Background trong PTS. Không layer nào có thể nằm phía dưới layer Background.

Điều thứ hai, nếu nhìn vào hình thu nhỏ xem trước của layer Background, chúng ta sẽ thấy PTS đã to màu trắng cho layer Background này. Như mình đã nói trước đây, PTS sẽ tự động lấp đầy layer Background bằng màu Background hiện tại. Trong trường hợp này thì màu Background của mình là màu trắng:

Bàng điều khiển hiển thị layer Background.

Bước 9: Dừng Ghi

Đó là những gì chúng ta cần làm. Mình đã chuyển đổi layer Background thành một layer bình thường, tạo thêm một layer mới và biến nó thành layer Background. Vì những gì chúng ta cần chỉ tới đây nên mình sẽ dừng việc ghi lại hành động bằng cách nhấn vào biểu tượng Stop ở cuối bange điều khiển Actions:

Nhấn vào biểu tượng Stop.

Các bước để tạo một layer Background mới giờ đã được lưu lại thành một Action. Chúng ta có thể thấy các bước được liệt kê ngay dưới tên của action. Tuy nhiên cũng không cần phải nhìn tới nó làm gì đâu nên mình sẽ nhấp vào biểu tượng hình tam giác để thu gọn nó lại:

Thu gọn lại.

Bây giờ chỉ hiện thị mỗi tên của action “New Background Layer” được liệt kê trong “My Actions”:

Bảng action sau khi thu gọn.

Bước 10: Hoàn Nguyên Hình Ảnh (Revert)

Bây giờ hãy đưa hình ảnh về tình trạng ban đầu để kiểm tra thử xem action mới có hoạt động không nhé. Đi tới menu File chọn Revert:

File > Revert.

Lệnh Revert sẽ khôi phục hình ảnh về phiên bản đã lưu trước đó hoặc quay về đúng hiện trạng ban đầu khi mới mở. Nhìn vào bảng điều khiển Layer, có thể thấy rằng giờ đây hình ảnh lại trở thành layer Background của tài liệu:

Hoàn nguyên hình ảnh.

Bước 11: Khởi Chạy Action

Trước khi kiểm tra thử xem action hoạt động ổn không, mình sẽ hoán đổi màu Foreground và Background để khiến cho màu Background hiện tại thành màu đen:

Đổi màu Background thành màu đen.

Khởi chạy hành động để xem điều gì sẽ xảy ra nhé. Nhấn vào tên của action trong bảng Actions để chọn:

Nhấn vào tên action.

Sau đó nhấn nút Play:

Nhấn nút Play.

Dù cho chúng ta tốn bao nhiêu thời gian để ghi lại loạt hành động, thì PTS cũng sẽ áp dụng ngay lập tức. Hãy nhìn sang bảng điều khiển Layers thử xem, mọi thứ đã được thực hiện. Layer Background ban đầu đã được chuyển thành “Layer 0” và một layer mới đã được tạo nằm ngay bên dưới nó.

Lưu ý rằng hình thu nhỏ xem trước cho layer Background mới bây giờ là màu đen, không phải là màu trắng như trước nó. Đó là bởi vì mình đã đổi màu Background sang màu đen trước khi áp dụng action:

Sau khi áp dụng action.

Thay Đổi Màu Của Layer Background

Nếu lỡ quên mất việc kiểm tra màu Background trước khi chạy action và kết quả màu nền bị sai lệch so với mong muốn thì cũng đừng quá lo lắng. Chúng ta hoàn toàn có thể dễ dàng thay đổi màu sắc của nó. Đầu tiên hãy đảm bảo layer Background được chọn trong bảng điều khiển Layers. Sau đó chuyển tới menu Edit rồi chọn Fill:

Edit > Fill.

Vì mình cần màu Background là màu trắng cho nên ở tùy chọn Use mình sẽ chọn màu trắng (White):

Chọn màu mới cho layer Background.

Nhấn OK để đóng hộp thoại, giờ đây PTS sẽ lấp đầy layer Background bằng màu bạn đã chọn. Nhìn vào hình thu nhỏ xem trước có thể thấy hiện tại nó đã chuyển sang màu trắng:

Màu được đổi từ đen sang trắng.

Dĩ nhiên chúng ta chưa thực sự nhìn thấy sự thay đổi của nó trên tài liệu vì hiện tại nó đang bị hình ảnh chắn đi mất. Mình sẽ thay đổi cách thước của hình ảnh bằng để nhìn rõ hơn nhé. Nhấn vào Layer 0 trong bảng điều khiển Layers để chọn nó:

Nhấn vào Layer 0.

Sau đó đi tới menu Edit chọn Free Transform:

Edit > Free Transform.

Thao tác này sẽ đặt một khung Free Transform xung quanh hình ảnh. Nhấn giữ Shift+Alt (Windows) / Shift+Option (Macbook) khi nhấp vào tay ở gốc trên cùng bên trái của hình ảnh rồi kéo nó vào trong để khiến cho hình ảnh nhỏ hơn chút. Giữ phím Shift khi kéo sẽ khóa tỷ lệ khung hình khi thực hiện thay đổi kích thước hình ảnh. Phím Alt (Windows) / Option (Macbook) thì sẽ thay đổi kích thước hình ảnh từ trung tâm thay vì từ góc.

Sau khi hình ảnh trở nên nhỏ hơn trước thì giờ đã có thể thấy được nền màu trắng bao quanh nó:

Dùng Free Transform để thay đổi kích thước hình ảnh.

Nhấn Enter (Windows) / Return (Macbook) để xác nhận chuyển đổi và đóng lệnh Free Transform. Sau đó mình sẽ đổ bóng cho hình ảnh bằng cách nhấp vào biểu tượng Layer Style ở phía dưới bảng điều khiển Layers (chức năng bị vô hiệu hóa đối với layer Background):

Nhấn vào biểu tượng Layer Style.

Sau đó chọn Drop Shadow:

Chọn Drop Shadow.

Thao tác này sẽ mở ra hộp thoại Layer Style với tùy chọn Drop Shadow nằm ở cột giữa. Mình sẽ đặt Angle là 135° để nguồn sáng đến từ phía bên trái. Sau đó chỉnh Distance (khoảng cách của bóng) là 40 pixel vì hình ảnh khá lớn. Đặt Size thành 40 pixel và cuối cùng giảm Opacity xuống còn 50%:

Tùy chọn Layer Style.

Nhấn OK để xác nhận và đóng hộp thoại, và đây chính là kết quả cuối cùng:

Kết quả sau khi đổ bóng.

Phần cuối cùng này có hơi vượt quá phạm vi của bài hướng dẫn nhưng nó thể hiện rõ cho chúng ta thấy điều có thể làm với hình ảnh nhưng lại không hề khả dụng khi hình ảnh nằm ở layer Background. Việc chuyển đổi layer Background thành một layer bình thường sau đó thêm vào một layer Background khác để thay thế đã giúp người dùng thoát ra khỏi giới hạn của layer Background và khiến cho cho chúng ta dễ dàng đạt được mục tiêu của mình.

Và hãy nhớ rằng bởi vì đã lưu lại các bước này dưới dạng một action nên trong những lần tiếp theo, khi cần thay layer Background bằng một layer khác thì chỉ việc khởi chạy action là xong!

 

Tìm Hiểu Về Layer Background Trong Photoshop

0

LAYER BACKGROUND TRONG PHOTOSHOP

Tìm hiểu về layer background trong PTS, lý do vì sao nó trở nên đặc biệt, những hạn chế và cách dễ dàng để khắc phục.

Ở những bài trước chúng ta đã tìm hiểu kiến thức cơ bản về layer như layer là gì, vì sao nó lại quan trọng. Đồng thời chúng ta cũng đã học được những kỹ năng cần thiết để làm việc với các layer trong bảng điều khiển Layer của PTS.

Tuy nhiên trước khi đi sâu vào tìm hiểu những điều tuyệt vời mà người dùng có thể làm với layer, hãy xem xét một loại layer đặc biệt. Đó là layer Background. Lý do vì sao cần tìm hiểu riêng về nó ư? Bởi vì có một số thứ người dùng có thể làm với tất cả các layer trừ layer Background. Nếu như không tìm hiểu trước thì rất có thể chúng ta sẽ bị nhầm lẫn và biết đâu sẽ cảm thấy có chút thất vọng.

Bài viết này dành riêng cho Photoshop CC vì Adobe đã có một số thay đổi và nó không áp dụng cho các phiên bản trước đó nữa. Nếu bạn sử dụng Photoshop CS6 hay phiên bản cũ hơn thì bài viết này không dành cho bạn thay vào đó hãy tham khảo bài viết Photoshop Layer – Layer Bacground.

Trước tiên hãy mở ảnh trong PTS:

Mở một bức ảnh có hình khung ảnh. (Nguồn: Adobe Stock)

Bất cứ khi nào mở ảnh mới trong PTS, hình ảnh được mở ra được coi như là một tài liệu của chính nó và PTS sẽ đặt hình ảnh này làm layer Background:

Bảng điều khiển hiển thị hình ảnh đang nằm trên layer Background.

PTS đặt tên cho nó là Background bởi vì nó sẽ dùng làm nền cho tài liệu. Bất kì layer nào được bổ sung thêm vào tài liệu cũng sẽ xuất hiện phía trên layer Background. Vì mục đính chính của nó là làm nền nên có một số thứ PTS sẽ không cho phép người dùng thực hiện với nó. Hãy cùng xem qua một số quy tắc đơn giản cần nhớ nhé. Sau đó chúng ta sẽ cùng tìm hiểu cách dễ dàng để giải quyết chúng.

Điều Thứ 1: Không Thể Di Chuyển Nội Dung Của Layer Background

Một trong những điều người dùng không thể làm với layer Background đó là di chuyển nội dung của nó. Thông thường để di chuyển nội dung của một layer chúng ta chỉ cần sử dụng Move Tool:

Chọn Move Tool.

Chỉ cần nhấp vào trong tài liệu và kéo nội dung đi xung quanh. Tuy nhiên hãy thử làm vậy đối với layer Background xem điều gì xảy ra nào? Ở ví dụ bên dưới mình đang cố gắng kéo nó về phía trên bên phải của tài liệu:

Thử di chuyển layer Background bằng Move Tool.

Thay vì di chuyển layer, PTS đã mở ra một hộp thoại thông báo việc dịch chuyển không thể thực hiện vì layer bị khóa. Nhấp vào OK để đóng hộp thoại:

Không thể di chuyển layer vì nó bị khóa.

Nhìn lại vào bảng điều khiển Layer, chúng ta sẽ thấy biểu tượng ổ khóa nhỏ ở ngoài cùng phía bên phải layer Background. Nó báo hiệu cho người dùng biết rằng layer hiện tại đã bị khóa và không thể di chuyển. Vậy vấn đề đầu tiên của layer Background là nó bị mắc kẹt tại vị trí ban đầu:

Biểu tượng khóa cho biết layer này hiện đang bị khóa và không thể di chuyển.

Điều Thứ 2: Không Có Sự Trong Suốt

Mình sẽ mở một hình ảnh khác và đặt nó vào trong khung hình này, hiện tại tâm của khung ảnh đang là màu trắng, cũng có nghĩa là chúng ta cần xóa màu trắng đi và thay vào đó là sự trong suốt để có thể hiển thị hình ảnh. Thông thường khi ta thực hiện việc xóa các pixel trên một layer thì vùng bị xóa sẽ trở nên trong suốt, cho phép người dùng nhìn xuyên qua các layer bên dưới. Tuy nhiên ở đây lại không như thế.

Trước tiên mình sẽ khoanh vùng khu vực bên trong khung ảnh. Bởi phía bên trong toàn bộ là màu trắng nên mình sẽ sử dụng Magic Wand Tool. Theo mặc định, công cụ này được đặt ẩn sau Quick Selection Tool. Nhấp chuột phải (Windows) / Control nhấp chuột (Macbook) vào Quick Selection Tool rồi chọn Magic Wand Tool nằm trong menu ẩn:

Chọn Magic Wand Tool.

Với Magic Wand Tool, mình sẽ nhấp vào một chỗ bất kì phía bên trong khung ảnh để chọn toàn bộ vùng có màu trắng. Một đường viền lựa chọn xuất hiện cung quanh các cạnh cho biết khu vực đó đã được chọn (nhìn trên hình hơi khó để phát hiện ra):

Khu vực màu trắng phía trong khung ảnh đã được chọn.

Nhấn vào Backspace (Windows) / Delete (Macbook) trên bàn phím để xóa khu vực đã được chọn. Nhưng thay vì xóa phần màu trắng đi và thay thế vào đó sự trong suốt như chúng ta mong đợi thì hiện tại PTS đã mở ra hộp thoại Fill yêu cầu người dùng chọn màu muốn tô vào khu vực đó:

Thay vì xóa khu vực màu trắng và thay vào đó sự trong suốt thì PTS mở ra hộp thoại Fill.

Nhấn vào Cancel để đóng hộp thoại vì đây không phải thứ mà chúng ta cần. Việc mình muốn làm là biến vùng màu trắng thành trong suốt chứ không phải đổi sang một màu khác. Chúng ta sẽ thử bằng một cách khác, đi tới menu Edit phía trên đầu màn hình chọn Cut:

Edit > Cut.

Đối với layer bình thường, thao tác này sẽ ngay lập tức cắt phần đã chọn ra khỏi layer và thay vào vị trí đó sự trong suốt. Tuy nhiên ở đây lại một lần nữa không có kết quả như chúng ta mong đợi. Trên thực tế dường như không hề có điều gì xảy ra, bên trong khung ảnh vẫn là màu trắng:

Bên trong khung ảnh vẫn là màu trắng.

Tại sao vậy? Đó là bởi vì PTS đã thực hiện cắt khu vực được chọn và tô vào đó màu nền hiện tại.

Chúng ta có thể thấy hai màu Foreground và Background ở cuối bảng công cụ. Theo mặc định PTS sẽ đặt Foreground là màu đen và Background là màu trắng. Vì hiện tại màu Background là màu trắng nên PTS đã sử dụng nó để tô vào phần bị cắt:

Màu Foreground (phía trên bên trái) và màu Background (phía dưới bên phải).

Chúng ta có thể hoán đổi vị trí của hai màu Foreground và Background bằng cách nhấn X trên bàn phím. Sau khi nhấn X thì hiện tại màu Background của mình giờ đã đổi thành màu đen:

Màu Background bây giờ là màu đen.

Hãy hoàn tác lại bước cuối cùng (cắt vùng chọn) bằng cách đi tới menu Edit chọn Undo Cut Pixels:

Edit > Undo Cut Pixels.

Sau đó lại quay lại Edit chọn Cut:

Edit > Cut.

Lần này, với màu Background được đặt là màu đen, khu vực bên trong khung ảnh đã được lấp đầy bởi màu đen. Bây giờ thì ít nhất chúng ta cũng nhìn ra sự thay đổi khi thực hiện thao tác cắt, tuy nhiên nó lại không phải là kết quả mà mình mong muốn:

PTS tiếp tục lấp đầy vùng bị cắt bằng màu đen.

Tại sao PTS không xóa khu vực bên trong khung ảnh một cách đơn giản nhất mà cứ bắt buộc phải thay vào bằng một màu khác? Lý do là bởi layer Background không hỗ trợ độ trong suốt. Layer Background được coi là lớp nền của tài liệu, cho nên không có gì cần nhìn xuyên qua nó cả. Xét cho cùng nó chỉ làm nền mà thôi.

Dù có cố thử thế nào thì chúng ta cũng không thể biến khu vực bên trong khung hình trở nên trong suốt khi mà nó vẫn nằm ở layer Background. Vậy làm sao để hiển thị hình ảnh khác trong khung đây? Vấn đề này một lát nữa mình sẽ nói đến sau.

Điều Thứ 3: Không Thể Di Chuyển Layer Background Lên Trên Một Layer Khác

Đây là hình ảnh mình muốn đặt vào phía trong khung ảnh:

Hình ảnh muốn đặt vào phía trong khung. (Nguồn: Adobe Stock)

Hình ảnh này hiện đang mở ở trong tài liệu của riêng nó, vậy nên mình sẽ sao chép nó vào cùng tài liệu của khung ảnh bằng cách nhấn Ctrl+A (Windows) / Command+A (Macbook) để chọn toàn bộ ảnh, sau đó nhấn Ctrl+C (Windows) / Command+C (Macbook) để sao chép hình ảnh vào bộ nhớ tạm.

Chuyển sang tài liệu có chứa khung ảnh, nhấn Ctrl+V (Windows) / Command+V (Macbook) để dán hình ảnh vào tài liệu. PTS sẽ đặt hình ảnh vào layer mới với tên gọi “Layer 1” nằm ngay phía trên layer Background:

Hình ảnh thứ hai được thêm vào layer riêng nằm ngay phía trên layer Background.

Nhìn vào tài liệu, có thể thấy hiện giờ hình ảnh mới này đang nằm đè lên khung ảnh:

Bức ảnh đang nằm phía trước khung ảnh.

Để cho bức ảnh cô gái xuất hiện bên trong khung ảnh, chúng ta cần sắp xếp lại thứ tự layer trong bảng điều khiển để cho khung ảnh sẽ nằm phía trên bức ảnh cô gái này. Thường thì việc di chuyển layer này lên trên layer khác rất dễ dàng, chỉ cần nhấp chuột và kéo là xong. Nhưng đối với layer Background thì thao tác này không khả dụng.

Khi nhấn vào layer Background rồi thử kéo lên phía trên của Layer 1, PTS sẽ hiển thị biểu tượng hình tròn có đường chéo bên trong nó để báo hiệu cho người dùng biết thao tác nào không thể thực hiện được:

Biểu tượng cho biết không thể kéo layer Background lên trên Layer 1.

Lý do không thể thực hiện thao tác này là bởi layer Background luôn luôn có nhiệm vụ làm nền của tài liệu, PTS sẽ không cho phép người dùng di chuyển nó lên trên bất kỳ layer nào khác.

Điều Thứ 4: Không Thể Di Chuyển Layer Nào Khác Xuống Phía Dưới Layer Background.

Vậy nếu không thể di chuyển layer Background lên trên layer khác thì mình thử di chuyển layer đó xuống dưới layer Background xem sao. Mình sẽ nhấn vào Layer 1 và thử kéo nó xuống dưới layer Background. Tuy nhiên hành động này cũng vẫn không được PTS cho phép, lại một lần nữa biểu tượng hình tròn có đường chéo ở giữa lại xuất hiện:

Biểu tượng báo hiệu thao tác không thể thực hiện được lại một lần nữa xuất hiện khi ta cố kéo Layer 1 xuống dưới layer Background.

Lý do là bởi vì layer Background vẫn luôn giữ nhiệm vụ làm nền trong tài liệu. Cho nên chúng ta không thể kéo nó lên trên layer nào cũng như không thể kéo layer đặt phía sau nó.

Điều Thứ 5: Không Thể Thay Đổi Blend Mode, Opacity Hay Fill

Chung quy lại, PTS không cho phép người dùng di chuyển nội dung của layer Background bằng Move Tool bởi vì layer này đã bị khóa tại cỗ. Layer Background cũng không hỗ trợ sự trong suốt vậy nên không có cách nào để xóa thứ gì đó trên layer này. Không chỉ thế bởi vì nhiệm vụ làm nền nên nó luôn luôn phải nằm dưới cùng trong tài liệu, người dùng không thể di chuyển lên xuống giữa nó và các layer khác.

Ngoài ra vẫn còn một số điều người dùng không thể thực hiện với layer Background. Hãy cùng xem qua nhé! Mình sẽ nhấp vào layer Background để chọn nó. Và hãy nhìn lên phía trên bên trái của bảng điều khiển Layer mà xem, hiện tại tùy chọn Blend Mode đã chuyển sang màu xám (không khả dụng). Bình thường người dùng có thể thay đổi Blend Mode của layer để thay đổi cách hòa trộn của layer đó với các layer bên dưới nó, nhưng vì layer Background là lớp nền trong tài liệu nên không có bất cứ layer nào nằm dưới nó. Điều này khiến cho Blend Mode trở nên vô dụng.

Tương tự đối với Opacity và Fill, cả hai cũng chuyển sang màu xám khi layer Background được chọn bởi hai tùy chọn này có công dụng điều chỉnh độ trong suốt của layer, mà layer Background thì lại không hỗ trợ sự trong suốt vậy nên hai tùy chọn này cũng trở nên vô dụng:

Blend Mode, Opacity và Fill không khả dụng đối với layer Background.

Giải Pháp Cực Kỳ Dễ Dàng

Vì nhiệm vụ chính của layer Background là làm nền cho tài liệu nên có khá nhiều quy tắc dành cho nó. Tuy nhiên luật lệ đặt ra là để phá vỡ. Mọi quy tắc đặt ra đều có thể dễ dàng hóa giải. Trong trường hợp này, có một cách cực dễ để xử lý hết các vấn đề trên trong cùng một lúc. Đó là đổi layer Background thành một layer khác. Hết sức đơn giản đúng không nào?!

Để đổi tên cho layer Background, hãy đi tới menu Layer phía trên đầu màn hình, chọn New rồi sau đó chọn Layer From Background:

Layer > New > Layer From Background.

Tuy nhiên có một cách nhanh hơn (cũng là tính năng mới trong Photoshop CC) đó là người dùng chỉ cần nhấn trực tiếp vào biểu tượng ổ khóa phía bên phải của layer Background:

Nhấn vào biểu tượng ổ khóa.

Ngay lập tức layer Background sẽ đổi tên thành “Layer 0” và biểu tượng ổ khóa cũng biến mất:

Tên layer Background giờ đã đổi thành “Layer 0”.

Và là chỉ với thao tác đơn giản như vậy chúng ta đã chuyển layer Background thành một layer bình thường, không còn bị ràng buộc bởi bất kì quy tắc nào nữa. Giờ thì hoàn toàn có thể di chuyển nội dung của layer bằng Move Tool, xóa bất kì nội dung nào đó không cần thiết trên layer và tự do di chuyển bị trí lên xuống giữa layer này và các layer khác.

Ví dụ mình muốn di chuyển khung ảnh nằm đè lên hình ảnh cô gái (Layer 1). Bởi vì khung ảnh giờ đây không còn là layer Background nữa nên chỉ cần nhấp vào Layer 0 rồi kéo nó cho đến khi có một thanh sáng xuất hiện phía trên Layer 1 báo hiệu vị trí mới của Layer 0 sau khi thả chuột:

Kéo Layer 0 lên phía trên Layer 1.

Thả chuột và PTS sẽ đặt Layer 0 nằm ngay phía trên Layer 1, đây chính là điều mình cần:

Layer chứa khung ảnh giờ đã có thể di chuyển lên phía trên layer có hình cô gái (điều mà khi nó nằm ở layer Background chúng ta không thể thực hiện được)

Trước đó chúng ta không thể xóa vùng màu trắng bên trong khung hình bởi vì nó là layer Background, nhưng giờ nó đã đổi thành Layer 0 thì đó không còn là vẫn đề khó khăn nữa. Mình sẽ sử dụng Magic Wand Tool nhấp vào trong khung hình để chọn toàn bộ vùng màu trắng (giống như trước đó):

Lựa chọn khu vực phía trong khung ảnh một lần nữa.

Sau đó nhấn Backspace (Windows) / Delete (Macbook) và thay vì nảy ra hộp thoại Fill thì lần này PTS đã làm đúng những gì mình mong đợi, xóa đi toàn bộ khu vực màu trắng bên trong khung hình và lộ ra hình ảnh nằm phía dưới nó:

Hình ảnh lộ ra sau khi xóa vùng màu trắng bên trong khung hình.

Nhấn Ctrl+D (Windows) / Command+D (Macbook) để bỏ chọn vùng bên trong khung hình và xóa đường viền vùng chọn. Sau đó nhấn vào Layer 1 để chọn nó thành layer đang hoạt động:

Chọn Layer 1.

Chọn Move Tool rồi nhấp vào bực ảnh và cái nó vào vị trí bên trong khung, di chuyển nó sang trái một chút. Mặc dù bây giờ Layer 1 là layer dưới cùng trong tài liệu, tuy nhiên nhiên tên của nó không phải là layer Background cho nên nó không hề bị khóa tại chỗ. Chúng ta hoàn toàn có thể tự do di chuyển nó theo ý muốn:

Kéo ảnh vào vị trí phía trong khung.

Chuyển Một Layer Bình Thường Thành Layer Background

Chúng ta có thể đổi layer Background thành layer thường bằng cách đổi tên cho nó một cái tên bất kì (ngoài tên Background). Vậy nếu muốn làm điều ngược lại thì sao? Đổi một layer thường thành layer Background liệu có dễ dàng? Chắc chắn là được nhưng cách để thực hiện nó thì không hoàn toàn rõ ràng cho lắm.

Có thể bạn sẽ nghĩa tới việc áp dụng cách lúc nãy để làm điều ngược lại là đổi tên một layer bình thường thành Background để biến nó trở thành lớp nền trong tài liệu. Nghe thì có vẻ hợp lý đó nhưng nó hoàn toàn không thực hiện được. Tất cả những gì bạn nhận được chỉ là một layer bình thường với cái tên Background mà thôi.

Để đổi một layer thường thành một layer Background, tức là một lớp nền thực sự. Trước tiên hãy nhấn chọn layer muốn chuyển đổi đó. Lưu ý bạn không cần phải chọn layer dưới cùng trong tài liệu bởi vì chỉ cần bạn chọn một layer bất kì trở thành layer Backgrounf thì PTS sẽ tự động xếp nó xuống dưới cùng sau khi chuyển đổi:

Nhấn chọn Layer 1 để chuyển đổi thành layer Background.

Sau đó đi tới menu Layer, chọn New rồi chọn Background from Layer:

Layer > New > Background from Layer.

Và giờ có thể thấy trong bảng điều khiển Layer thì Layer 1 giờ đây đã trở thành layer Background:

Layer 1 đã chuyển thành layer Background.

Thực ra trong trường hợp này không cần phải đổi layer dưới cùng thành layer Background. Nhưng trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi tạo hiệu ứng hoặc ghép ảnh thì việc tạo một layer Background mới là cực kỳ hữu ích.

 

Tìm Hiểu Về Các Tùy Chọn Của Bảng Điều Khiển Layer Trong Photoshop

0

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ TÙY CHỌN BẢNG ĐIỀU KHIỂN LAYER

Xem xét hộp thoại Layers Panel Options và các cài đặt cho phép tùy chỉnh giao diện của bảng Layers giúp cho công việc hiệu quả hơn.

Trong bài hướng dẫn này, chúng ta sẽ tìm hiểu nhanh một số cách đơn giản (nhưng nhiều người lại không biết) để tùy chỉnh bảng điều khiển Layer, giữ cho nó không bị lộn xộn và tạo ra một không gian làm việc sạch sẽ, hiệu quả hơn. Mình sẽ sử dụng Photoshop CC, tuy nhiên bài viết này vẫn thích hợp đối với các phiên bản gần đây của PTS.

Cùng bắt đầu nhé!

Thay Đổi Kích Thước Hình Thu Nhỏ Xem Trước

Nhìn vào điều khiển Layer, chúng ta sẽ thấy hình ảnh đang nằm trên layer Background. Có thể biết được điều này là do PTS cung cấp cho người dùng một hình thủ nhỏ xem trước nội dung của layer:

Hình thu nhỏ xem trước trong bảng điều khiển Layer.

Chúng ta có thể thay đổi kích thước của hình thu nhỏ xem trước tùy thuộc vào mục đích sử dụng. Hình thu nhỏ lớn hơn giúp dễ dàng xem nội dung của từng layer, ngược lại hình thu nhỏ nhỏ hơn giúp cho bảng điều khiển trong gọn gàng, ngăn nắp. Để thay đổi kích thước hình thu nhỏ từ menu bảng điều khiển layer là nhấp vào biểu tượng menu nhỏ ở góc trên cùng bên phải của bảng điều khiển:

Nhấp vào biểu tượng menu.

Sau đó chọn Panel Options:

Chọn Panel Options.

Thao tác này giúp mở hộp thoại Layers Panel Options với phía trên cùng là các lựa chọn Thumbnail Size (kích thước hình thu nhỏ). Người dùng có thể chọn kích thước Small, Medium hay Large (thể hiện bằng ba hình ảnh có kích thước khác nhau hoặc không có) hoặc None (không muốn xem hình thu nhỏ xem trước). Bản thân mình thì thích chọn Large vì muốn nhìn rõ hình xem trước thu nhỏ:

Chọn Large.

Nhấn OK để đóng hộp thoại Layers Panel Options, ngay lập tức bảng điều khiển Layer sẽ hiển thị kích thước hình thu nhỏ xem trước ở mức lớn nhất có thể:

Hình thu nhỏ lớn hơn giúp người dùng dễ dàng xem nội dung tuy nhiên lại chiếm khá nhiều chỗ.

Một cách khác để thay đổi kích thước hình thu nhỏ đó là nhấp chuột phải (Windows) / Control nhấp chuột (Macbook) vào chỗ trống bất kì bên dưới layer dưới cùng trong bảng điều khiển Layer sau đó chọn Small, Medium, Large hoặc None. Cách này tuy nhanh hơn nhưng đôi khi không còn khoàng trống nào trong bảng điều khiển, thì bắt buộc phải dùng cách nhấn vào menu như mình đã hướng dẫn phía trên để thay đổi kích thước hình thu nhỏ:

Nhấp chuột phải (Windows) / Control nhấp chuột (Macbook) bên dưới layer để thay đổi kích thước hình thu nhỏ.

Tắt Default Layer Masks

Mặc dù hình thu nhỏ xem trước lớn có thể giúp chúng ta xem nội dung các layer dễ hơn nhưng các hình thu nhỏ layer mask thường sẽ làm cho bảng điều khiển trở nên lộn xộn, đặc biệt là layer Fill và Adjustment. Theo mặc định mỗi khi chúng ta thêm layer Fill hay Adjustment vào tài liệu, PTS sẽ bao gồm cả layer mask phòng trường hợp chúng ta chỉ cần nhắm vào một mục tiêu cụ thể. Ví dụ chúng ta thêm layer Levels or Curves để làm trắng răng hay tỏa sáng mắt của ai đó thì trong trường hợp này chúng ta cần layer mask để khoanh vùng khu vực cần chỉnh sửa.

Nhưng trong trường hợp khác chúng ta muốn layer Fill hay Adjustment áp dụng cho toàn bộ hình ảnh, có nghĩa là không cần dùng đến layer mask và hình thu nhỏ của nó chiếm không gian trong bảng điều khiển. Ở ví dụ minh họa bên dưới, mình đã thêm một layer Levels adjustment vào tài liệu để điều chỉnh độ sáng cũng như độ tương phản tổng thể của hình ảnh. Trong trường hợp này chúng ta không cần dùng đến layer mask, nhưng bởi PTS vẫn thêm vào nên nó làm cho bảng điều khiển Layer trông khá là lộn xộn. Mình thậm chí còn chẳng nhìn thấy trên của layer bởi hình thu nhỏ layer mask đã che mất rồi:

Hình thu nhỏ xem trước rất có lợi nhưng hình thu nhỏ của layer mask thì không phải lúc nào cũng có ích.

Nhiều người dùng PTS thích tắt mặc định layer mask đi cho cả layer Fill và layer Adjustment và dùng cách thủ công để bật nó lên khi cần. Nếu đang lăn tăn tự hỏi sự khác biệt giữa layer Fill và layer Adjustment thì hãy nhấp vào biểu tượng New Fill or Adjustment Layer ở dưới bảng điều khiển:

Nhấp vào biểu tượng New Fill or Adjustment.

Layer Fill là ba mục nằm ở đầu danh sách: Solid Color, GradientPattern. Còn lại phía dưới thuộc về layer Adjustment:

Solid Color, Gradient và Pattern.

Để tắt mặc định layer mask cho cả 3 layer Fill này chỉ cần nhấp lại một lần nữa vào biểu tượng menu ở góc trên cùng bên phải của bảng điều khiển Layer và chọn Panel Options. Sau đó xuống gần cuối hộp thoại Layers Panel Options, bỏ chọn tùy chọn Use Default Masks on Fill Layers:

Bỏ chọn “Use Default Masks on Fill Layers”.

Chúng ta cần phải chuyển từ bảng điều khiển Layer sang bảng Adjustment để tắt mặc định layer mask. Nhấp vào biểu tượng menu ở góc trên cùng bên phải của bảng Adjustment:

Nhấp vào biểu tượng menu của bảng điều khiển Adjustment.

Menu mở ra ta sẽ thấy tùy chọn Add Mask by Default. Dấu tích bên cạnh cho biết tùy chọn nào hiện đang được bật. Nhấp vào tùy chọn đó để tắt nó đi:

Nhấn vào Add Mask by Default để tắt tùy chọn.

Bây giờ, khi ta thêm layer Fill hay Adjustment sẽ không còn xuất hiện layer mask nữa và quan trọng hơn là không có hình thu nhỏ layer mask chiếm mất không gian trong bảng điều khiển Layer:

Layer mask giờ không xuất hiện nữa.

Chúng ta có thể dễ dàng thêm layer mask vào layer Fill hoặc Adjustment bằng cách thủ công khi cần dùng đến chỉ bầng một cú nhấp chuột vào biểu tượng Add Layer Mask ở cuối bảng điều khiển:

Thêm layer mask bằng cách thủ công khi cần dùng đến.

Layer mask lại xuất hiện một lần nữa, hình thu nhỏ của nó lại chiếm một phần không gian trong bảng điều khiển. Tuy nhiên lần này là do chúng ta cố tình mở nó ra:

Hình thu nhỏ layer mask lại xuất hiện.

Tắt “Copy” Trong Các Layer Được Sao Chép

Một tùy chọn cuối cùng chúng ta có thể đặt cho bảng điều khiển Layer giúp cho nó không bị lộn xộn là yêu cầu PTS không thêm từ “copy” vào tên các layer đã sao chép. Theo mặc định bất cứ khi nào chúng ta sao chép một layer, PTS sẽ thêm từ “copy” vào cuối tên của nó. Sẽ thật tồi tệ khi chúng ta bắt đầu tạo bản sao của các layer đã sao chép, ví dụ như “Layer 1 copy 2”, “Layer 1 copy 3” v.v.

Việc xuất hiện quá nhiều từ “copy” thực sự không cần thiết.

Để tắt hành vi mặc định này, hãy nhấp một lần nữa vào biểu tượng menu trên bảng điều khiển Layer và chọn Panel Options. Sau đó xuống gần cuối hộp thoại Panel Options rồi bỏ chọn Add “copy” to Copied Layers and Groups:

Bỏ chọn Add “copy” to Copied Layers and Groups.

Sau khi vô hiệu hóa tùy chọn này, lần sau khi tạo bản sao của một layer thì từ “copy” không còn được thêm vào tên nữa:

Đổi tên các lớp vẫn là một ý tưởng hay nhưng ít nhất bảng điểu khiển bây giờ trong gọn gàng hơn.

 

Bài Viết Ngâu Nhiên