Thay Đổi Kích Thước Hình Ảnh Để In Với Photoshop

0

THAY ĐỔI KÍCH THƯỚC HÌNH ẢNH ĐỂ IN BẰNG PHOTOSHOP

Tìm hiểu cách thay đổi kích thước hình ảnh để in với PTS. Tìm hiểu cách kích thước in hoạt động, cách phóng to hình ảnh, cách thay đổi kích thước cho các kích thước khung hình khác nhau và cách để có được bản in chất lượng cao nhất!

Trong bài hướng dẫn này, mình sẽ chỉ cho các bạn cách thay đổi kích thước hình ảnh để in bằng PTS. Thay đổi kích thước để in khác hoàn toàn với thay đổi kích thước cho web hay để xem trên màn hình bởi hai cái này không cần thay đổi số lượng pixel trong hình ảnh.

Ngày nay hầu hết các máy ảnh đều chụp với kích thước khung hình phù hợp để in (như 8 x 10 hay 11 x 14). Vì vậy thay vì thay đổi số lượng pixel thì tất cả những gì chúng ta cần làm là thay đổi kích thước in. Và những gì chúng ta cần làm chính là thay đổi độ phân giải của hình ảnh. Mình sẽ giải thích độ phân giải là gì và chúng ta cần độ phân giải bao nhiêu để có bản in chất lượng cao trong bài hướng dẫn này.

Nếu bạn cần in hình ảnh ở kích thước lớn hơn thì sẽ cần phóng to nó lên bằng cách thêm nhiều pixel hơn. Ngoài ra nếu muốn điều chỉnh hình ảnh với kích thước khung hình không khớp với tỷ lệ khung ảnh thì cần cắt hình ảnh trước khi thay đổi kích thước.

Trước khi bắt đầu hãy mở một ảnh bất kì trong PTS:

Mở ảnh trong PTS. (Nguồn: Adobe Stock)

Hộp Thoại Image Size

Muốn thay đổi kích thước hình ảnh để in trong PTS chúng ta sẽ sử dụng hộp thoại Image Size. Hãy đi tới menu Image rồi chọn Image Size:

Image > Image Size.

Trong Photoshop CC, hộp thoại Image Size có cửa sổ xem trước ở bên trái và các tùy chọn để xem cũng như thay đổi kích thước hình ảnh ở bên phải (mình đã nói kĩ ở bài viết trước):

Hộp thoại Image Size trong Photoshop CC.

Chỉnh Cho Bản Xem Trước Lớn Hơn

Nếu muốn tăng kích thước của cửa sổ xem trước thì hãy tăng kích thước hộp thoại Image Size bằng cách kéo hộp thoại vào phía góc trên bên trái màn hình, sau đó kéo góc dưới cùng bên phải của nó hướng ra ngoài.

Sau khi thay đổi kích thước hộp thoại, hãy nhấp và kéo vào bên trong cửa sổ xem trước để căn giữa hình ảnh trong đây:

Thay đổi kích thước hộp thoại để cửa sổ xem trước lớn hơn.

Xem Kích Thước Hình Ảnh Hiện Tại

Kích thước hiện tại của hình ảnh được hiển thị trên cùng ngay bên cạnh dòng chữ Image Size (tính bằng megabyte). Dưới đó là Dimensions (kích thước tính bằng pixel). Cả hai mục này đều không cho chúng ta biết về kích thước in:

Kích thước hiện tại của hình ảnh hiển thị ở trên cùng.

So Sánh Thay Đổi Kích Thước Và Lấy Mẫu Lại Hình Ảnh

Trước khi tìm hiểu cách thay đổi kích thước hình ảnh để in, chúng ta cần phân biệt được sẽ khác nhau giữa việc thay đổi kích thước hình ảnh và lấy mẫu lại.

Thay Đổi Kích Thước Hình Ảnh Là Gì?

Thay đổi kích thước hình ảnh nghĩa là không thay đổi số lượng pixel trong ảnh. Tất cả những gì chúng ta làm là thay đổi kích thước hình ảnh sẽ in ra. Chúng ta kiểm soát kích thước bản in bằng cách thay đổi độ phân giải (chứ không thay đổi số lượng pixel). Mình đã đề cập đến kích thước và độ phân giải hình ảnh trong bài hướng dẫn đầu tiên của chương này.

Lấy Mẫu Lại Là Gì?

Lấy Mẫu Lại nghĩa là chúng ta sẽ thay đổi số lượng pixel. Thêm nhiều pixel hơn là upsampling, bỏ bớt pixel đi là downsampling. Downsampling được sử dụng khi giảm kích thước của hình ảnh (để gửi qua mail, up lên web hay để xem trên màn hình). Nhưng để in thì không cần phải làm điều này. Tuy nhiên đôi khi chúng ta cần lấy mẫu thêm nếu kích thước pixel hiện tại quá nhỏ để in ở kích thước bạn cần. Lát nữa mình sẽ chỉ cho các bạn cách upsampling.

Kích Thước In Hoạt Động Như Nào?

Để xem liệu hình ảnh có đủ lượng pixel để in ở kích thước bạn cần hay chưa, hãy bắt đầu bằng cách tắt tùy chọn Resample (nằm ngay dưới Resolution trong hộp thoại Image Size). Khi tắt tùy chọn này, PTS sẽ không cho người dùng thay đổi số lượng pixel. Tất cả những gì chúng ta có thể thay đổi là kích thước in:

Tắt tùy chọn Resample.

Kích Thước In Hiện Tại Nằm Đâu?

Kích thước in hiện tại hiển thị trong các mục Width, HeightResolution. Trong ví dụ của mình hình ảnh sẽ được in ra với chiều rộng (Width) là 10,747 inch và chiều cao (Height) là 7,163 inch, độ phân giải là 300 pixel/inch:

Kích thước in hiện tại của hình ảnh.

Độ Phân Giải Hình Ảnh Là Gì?

Chiều rộng và chiều cao thì đơn giản rồi. Còn độ phân giải thì sao? Nó chính là số pixel trong hình ảnh của bạn sẽ in lên giấy. Bởi hình ảnh có số lượng pixel hạn chế nên càng in nhiều pixel/inch thì hình ảnh in ra sẽ càng nhỏ và ngược lại.

Chúng ta không thay đổi số lượng pixel trong hình ảnh nên việc thay đổi độ phân giải không ảnh hưởng đến kích thước tệp hoặc hình ảnh hiển thị trên màn hình. Độ phân giải chỉ áp dụng cho bản in.

Trong ví dụ của mình, độ phân giải hiện đang được đặt ở mức 300 pixel/inch. Có nghĩa là 300 pixel từ chiều rộng và 300 pixl từ chiều cao in lên mỗi inch giấy. Nghe thì có vẻ không nhiều nhưng hãy thử nhân lên xem, 300 x 300 = 90.000. Tức là sẽ có 90.000 pixel in mỗi trong mỗi inch vuông của giấy:

Giá trị độ phân giải dành cho cả chiều rộng và chiều cao.

Độ Phân Giải Ảnh Hưởng Đến Kích Thước In Như Thế Nào?

Để hiểu được độ phân giải có ảnh hưởng như nào đến kích thước in, chúng ta hãy thử chia chiều rộng và chiều cao hiện tại (tính bằng pixel) của hình ảnh cho độ phân giải. Ví dụ: hình ảnh của mình có chiều rộng là 3224 pixel:

Chiều rộng hiện tại tính theo đơn vị pixel.

Nếu chia 3224 pixel (chiều rộng) cho 300 pixel/inch thì sẽ được 10,747 inch:

Lấy chiều rộng (tính theo pixel) chia cho độ phân giải sẽ ra chiều rộng khi in.

Chiều cao của hình ảnh là 2149 pixel:

Chiều cao hiện tại của hình ảnh (tính theo pixel).

Vậy nếu lấy 2149 pixel (chiều cao) chia cho độ phân giải 300 pixel/inch thì sẽ được 7,163 inch:

Lấy chiều cao (tính theo pixel) chia cho độ phân giải sẽ ra chiều cao khi in.

Cần Độ Phân Giải Bao Nhiêu Để Có Bản In Chất Lượng Cao?

Giờ thì bạn đã hiểu độ phân giải có ảnh hưởng thế nào tới kích thước in. Vậy câu hỏi đặt ra là chúng ta cần độ phân giải bao nhiêu để khi in ra hình ảnh sẽ tuyệt nhất? Chúng ta cần quan tâm ba điều:

Thứ nhất: Độ phân giải tiêu chuẩn

Trước tiên là câu trả lời chính thức. Tiêu chuẩn công nghiệp từ bao đời nay để bản in có chất lượng cao là dùng độ phân giải 300 pixel/inch. Có nghĩa chúng ta cần ít nhất 300 pixel/inch nếu muốn hình ảnh của mình trông rõ ràng và sắc nét với nhiều chi tiết khi in. Đây là độ phân giải chắn chắn sẽ mang lại kết quả tuyệt vời khi in.

Thứ hai: Độ phân giải được coi là đủ tốt

Tuy nhiên có một số lập luận lại phản bác lại độ phân giải tiêu chuẩn. Đầu tiên nó chỉ coi số điểm ảnh là một yếu tố trong chất lượng in mà không xem xét các yếu tố quan trọng khác (ví dụ như kích thước xem). Nói chung bản in càng lớn thì khoảng cách người xem càng xa. Với bản in 4 x 6 bạn hoàn toàn có thể cầm nó trên tay và nhìn bao quát, nhưng với bản in 24 x 36 hay 30 x 40 thì bạn chắc chắn cần đứng lùi lại chút đó. Hoặc nếu là bảng quảng cáo trên đường cao tốc thì khoảng cách cần phải kéo tới hàng trăm bước chân.

Bởi vì mắt chúng ta không thể cùng phân giải một lượng chi tiết ở khoảng cách xa hơn cho nên việc lập luận in mọi thứ (kể cả khoảng cách xem) ở cùng một độ phân giải là vô nghĩa. 300 pixel/inch là những gì bạn cần cho các bản in nhỏ được xem ở khoảng cách gần. Đối với những bản in lớn hơn thì cần độ phân giải thấp hơn để có thể trông tuyệt đẹp khi ở khoảng cách đủ xa:

Tầm quan trọng của độ phân giải giảm đi khi kéo giãn khoảng cách ra xa.

Một lập luận trái chiều khác đó là mặc dù 300 pixel/inch sẽ cung cấp cho bạn bản in chất lượng cao nhưng bạn có thực sự cần phải in ở mức chất lượng cao nhất này không? Hoặc độ phân giải thấp hơn liệu có đủ tốt không? Nhiều nhiếp ảnh gia cho rằng con số 240 pixel/inch là giá trị đủ tốt cho độ phân giải. Chắc chắn bản in với độ phân giải 300 pixel/inch sẽ đẹp hơn nếu đem ra so sánh. Tuy nhiên bức ảnh được in ra với độ phân giải 240 pixel/inch vẫn có đủ độ sắc nét và chi tiết khiến cho đa số người xem hài lòng. Hơn nữa, đặt độ phân giải ở mức 240 pixel/inch sẽ khiến cho kích thước tệp nhỏ hơn chút.

Thứ ba: Độ phân giải gốc của máy in

Mặc dù những lập luận phản bác lại độ phân giải tiêu chuẩn khá mạnh mẽ nhưng họ dường như đã bỏ qua một chi tiết rất quan trọng. Quan trọng đến mức nó có thể làm cho tất cả những phản bác về mức độ tiêu chuẩn trở nên vô nghĩa.

Thực tế máy in có độ phân giải in của riêng nó và nó hi vọng sẽ nhận được hình ảnh ở độ phân giải gốc này. Hầu hết các máy in có độ phân giải 300 pixel/inch (phù hợp với tiêu chuẩn ngành). Nếu bạn gửi sang máy in một hình ảnh có độ phân giải thấp hơn (ví dụ như 240 pixel/inch) thì máy in sẽ tự động lấy mẫu lên độ phân giải gốc. Hay nói cách khác chính là không thể in hình ảnh ở bất kì thứ gì nhỏ hơn độ phân giải gốc của máy in.

Ví dụ như máy in Epson Stylus Pro 3880 sử dụng độ phân giải gốc là 360 pixel/inch (cao hơn cả độ phân giải tiêu chuẩn ngành). Đối với máy in này thì bất kì hình ảnh nào có độ phân giải dưới 360 pixel/inch cũng sẽ đều được tự động lấy mẫu lên 360 pixel/inch. Những hãng máy in khác (Canon, HP v.v.) sử dụng độ phân giải gốc là 300 pixel/inch.

Đâu Là Câu Trả Lời Đúng?

Vậy tất cả những điều này có nghĩa là gì? Độ phân giải chính xác cho bản in chất lượng cao là bao nhiêu? Câu trả lời cho hầu hết các loại máy in là 300 pixel/inch (đối với Epson thì độ phân giải gốc là 360 pixel/inch). Nếu hình ảnh có độ phân giải thấp hơn thì máy in sẽ tự động lấy mẫu thêm. Tuy nhiên thì việc lấy mẫu lại này PTS có thể thực hiện tốt hơn so với máy in. Vì thế nếu độ phân giải hình ảnh đang ở dưới mức 300 pixel/inch hãy lấy mẫu lại ngay trong hộp thoại Image Size trước khi thực hiện thao tác in:

Độ phân giải tốt nhất là độ phân giải gốc của máy in.

Vậy Độ Phân Giải Quá Cao Thì Sao?

Độ phân giải hình ảnh cao hơn so với độ phân giải gốc của máy in thì sao? Chúng ta có cần downsample (giảm mẫu) để giảm độ phân giải hay không? Câu trả lời là không. Bạn hoàn toàn có thể gửi sang máy in hình ảnh với lượng pixel nhiều hơn mức cần thiết và điều này sẽ đảm bảo hình ảnh của bạn trông sắc nét nhất có thể khi được in ra.

Cách Thay Đổi Kích Thước In

Vậy là chúng ta đã biết độ phân giải có ảnh hưởng thế nào đến kích thước in cũng như độ phân giải tối thiểu cần có để bản in có chất lượng cao. Giờ thì cùng tìm hiểu cách thay đổi kích thước in. Hãy tắt tùy chọn Resample, nhập kích thước mới vào hai mục Width (chiều rộng) và Height (chiều cao). Vì hai mục này được liên kết với nhau nên việc thay đổi một trong hai cái cũng sẽ khiến cái còn lại thay đổi theo.

Phù Hợp Với Tỷ Lệ Khung Hình Và Hướng Của Hình Ảnh

Lưu ý rằng bạn chỉ có thể nhập kích thước phù hợp với tỷ lệ khung hình hiện tại của hình ảnh. Ví dụ: hình ảnh đang sử dụng tỷ lệ khung hình 4 x 6 thì chúng ta sẽ không thể in nó ở dạng 8 x 10. Nó sẽ khiến cho tỷ lệ khung hình không khớp. Vậy để in hình ảnh theo một tỷ lệ khung hình khác, trước tiên chúng ta cần cắt lại hình ảnh.

Ngoài tỷ lệ khung hình, bạn cần quan tâm đến cả hướng của hình ảnh. Nếu hình ảnh đang theo chiều dọc (chiều rộng nhỏ hơn chiều cao) thì chắc chắn bạn cần đặt chiều rộng với giá trị nhỏ hơn so với chiều cao. Và ngược lại nếu hình ảnh đang theo chiều ngang thì hãy đặt chiều rộng có giá trị lớn hơn so với chiều cao).

Thay Đổi Chiều Rộng Và Chiều Cao

Giả sử in hình ảnh dưới dạng 4 x 6 (hình ảnh theo chiều ngang với chiều rộng lớn hơn chiều cao) vì vậy mình sẽ đặt giá trị chiều rộng lag 6 inch, PTS sẽ tự động đặt chiều cao thành 4 inch (trong ví dụ của mình là 3,999 inch để phù hợp với tỷ lệ khung hình):

Nhập giá trị chiều rộng thì chiều cao sẽ tự động thay đổi theo.

Nếu muốn đặt chiều cao chính xác là 4 inch, thì ta có thể đổi sang đặt giá trị chiều cao thành 4 inch, khi đó chiều rộng sẽ thay đổi thành 6,001 inch. Tỷ lệ khung hình của hình ảnh tuy không chính xác là 4 x 6 nhưng nó cũng gần sát giá trị này:

Thay đổi chiều cao sẽ khiến cho chiều rộng thay đổi theo.

Kiểm Tra Độ Phân Giải Hình Ảnh

Lưu ý giá trị độ phân giải cũng được liên kết với chiều rộng và chiều cao. Sau khi giảm giá trị chiều rộng và chiều cao, độ phân giải đã tăng lên từ 300 pixel/inch lên 537,28 pixel/inch. Đó là bởi chúng ta có nhiều pixel/inch hơn để in hình ảnh ở size nhỏ. Tuy nhiên vì độ phân giải mới cao hơn nhiều so với độ phân giải tối thiểu (300 pixel/inch) nên chúng ta không cần lấy mẫu thêm. Hình ảnh sẽ trông thật tuyệt vời theo cách của nó:

Giảm chiều rộng và chiều cao làm tăng độ phân giải.

Kiểm Tra Kích Thước Hình Ảnh

Ngoài ra cần lưu ý rằng việc thay đổi kích thước in không ảnh hưởng đến kích thước hình ảnh thực tế (tính bằng megabyte hoặc pixel). Hình ảnh vẫn được giữ nguyên, cái duy nhất chúng ta thay đổi là kích thước hình ảnh khi in ra:

Kích thước in không gây ảnh hưởng đến những thứ khác.

Khi Nào Thì Phóng To Hình Ảnh

Giả sử mình không in hình ảnh ra dưới dạng 4 x 6 mà thay vào đó cần tăng gấp đôi chiều rộng và chiều cao lên để in ở mức 12 x 8. Mình sẽ tăng giá trị chiều cao từ 4 lên thành 8 inch và PTS sẽ tự động tăng gấp đôi giá trị chiều rộng từ 6 lên 12. Lưu ý khi tăng gấp đôi chiều rộng và chiều cao thì giá trị độ phân giải cũng đã tự động giảm đi một nửa, hiện tại giá trị độ phân giải đang ở dưới mức giá trị độ phân giải tối thiểu mà chúng ta cần (300 pixel/inch):

Tăng chiều rộng và chiều cao sẽ làm giảm độ phân giải.

Quay trở lại một chút về những gì chúng ta đã tìm hiểu lúc trước. Có một số người cho rằng mọi độ phân giải lớn hơn 240 pixel/inch đều ổn cho nên độ phân giải mới (268 ppi) khá hợp lý. Tuy nhiên vì độ phân giải gốc của máy in là 300 ppi (hoặc với máy Epson là 360 ppi) và máy in sẽ tự động lấy mẫu lại hình ảnh sao cho phù hợp với độ phân giải gốc của máy. Vậy thì không có lý do gì mà ta không thực hiện luôn việc lấy mẫu lại ngay trong hộp thoại Image Size. Như thế kết quả sẽ luôn tốt hơn so với việc để mặc máy in tự điều chỉnh.

Cách Lấy Mẫu Lại (Upsample) Hình Ảnh

Để lấy mẫu lại hình ảnh hãy bật tùy chọn Resample:

Tích vào để chọn Resample.

Sau đó nhập độ phân giải bận cần vào mục Resolution. Đa số các máy in có độ phân giải gốc là 300 ppi (đối với Epson là 360 ppi):

Nhập giá trị độ phân giải.

Kiểm Tra Chiều Rộng Và Chiều Cao

Sau khi bật Resample, độ phân giải sẽ không còn được liên kết với chiều cao và chiều rộng nữa. Vậy nên mặc dù tăng độ phân giải nhưng hình ảnh vẫn được in với kích thước 12 x 8 inch:

Thay đổi độ phân giải không ảnh hưởng đến kích thước chiều rộng và chiều cao.

Kiểm Tra Kích Thước Hình Ảnh

Kích thước thực của hình ảnh giờ đã thay đổi (tính bằng megabyte và pixel). Sau khi bật Resample, việc tăng độ phân giải buộc PTS phải thêm nhiều pixel hơn. Hình ảnh ban đầu của mình có kích thước chiều rộng là 3224 pixel, chiều cao là 2149 pixel. Nhưng sau khi lấy mẫu lại, chiều rộng đã tăng lên thành 3601 pixel, chiều cao là 2400 pixel.

Ngoài ra, bởi vì đã thêm nhiều pixel vào hơn, kích thước của hình ảnh trong bộ nhớ cũng tăng từ 19,8 megabyte lên 24,7 megabyte:

Việc lấy mẫu lại hình ảnh sẽ làm tăng kích thước pixel và kích thước tệp.

Phương pháp Interpolation

Bất cứ khi nào thực hiện việc lấy mẫu lại hình ảnh, PTS sẽ tự động thêm hoặc bớt các pixel trên hình ảnh. Phương pháp này được gọi là phương pháp interpolation (phương pháp nội suy). Có một vài phương pháp interpolation cho chúng ta lựa chọn và sự khác biệt giữa chúng có thể tác động rất lớn đến chất lượng của hình ảnh.

Tùy chọn Interpolation nằm ngay cạnh tùy chọn resample. Nó được đặt là Automatic theo mặc định và chỉ áp dụng cho việc lấy mẫu lại. Nếu tùy chọn Resample tắt thì tùy chọn này cũng không khả dụng:

Tùy chọn Interpolation.

Chọn phương pháp để áp dụng

Nhấp vào tùy chọn để mở ra bảng danh sách các phương pháp có thể áp dụng để lựa chọn. Một số phương pháp dành cho việc upsample và một số còn lại dành cho việc downsample:

Các phương pháp Interpolation.

Nếu tìm hiểu toàn bộ các phương pháp này thì khá tốn thời gian mà thực tế chúng ta không cần thực sự hiểu hết về chúng. Theo mặc định, tùy chọn interpolation luôn được đặt thành Automatic, cho phép PTS tự lựa chọn phương pháp phù hợp nhất. Vì vậy lựa chọn Automatic là phương pháp khá an toàn.

Preserve Details 2.0

Trong Photoshop CC 2018, Adobe đã thêm một phương pháp nâng cấp mới có tên gọi Preserve Details 2.0. Nó hiện là lựa chọn tốt nhất để phóng to hình ảnh. Tùy nhiên có một vấn đè là PTS sẽ không bảo giờ chọn nó nếu bạn lựa chọn chế độ Automatic. Vì vậy nếu đang sử dụng Photoshop CC phiên bản 2018 trở lại đây và muốn thực hiện thao tác upsample thì hãy chọn Preserve Details 2.0 thay vì Automatic:

Chọn Preserve Details 2.0 khi thực hiện upsample (đối với Photoshop CC phiên bản 2018 trở lại đây).

Nếu không thấy phương pháp này hiển thị trong danh sách, hãy thực hiện việc kích hoạt nó trong Preferences (mình sẽ hướng dẫn trong bài Cách Tốt Nhất Để Phóng To Hình Ảnh Trong Photoshop CC Phiên Bản 2018)

Tóm Tắt Nhanh Cách Thay Đổi Kích Thước Hình Ảnh Để In

Trước khi tiếp tục tìm hiểu cách thay đổi hình ảnh thành một tỷ lệ khung hình khác, chúng ta sẽ cùng tóm tắt nhanh những gì vừa học được:

Để thay đổi kích thước hình ảnh phục vụ cho việc in ấn, hãy mở hộp thoại Image Size và tắt tùy chọn Resample. Nhập kích thước Width và Height mà bạn cần, sau đó kiểm tra độ phân giải. Nếu độ phân giải bằng hoặc cao hơn độ phân giải gốc (đa phần là 300 ppi đối với các loại máy in, trừ Epson là 360 ppi) thì không cần làm thêm thao tác gì nữa.

Nếu độ phân giải nhỏ hơn độ phân giải gốc của máy in thì hãy lấy mẫu lại hình ảnh bằng cách sử dụng tùy chọn Resample. Sau đó đặt giá trị độ phân giải là 300 ppi (đối với máy in Epson là 360 ppi). Đặt phương pháp Interpolation thành Automatic (đối với Photoshop CC 2018 (trở lên) hãy chọn thành Preserve Details 2.0).

Cách Thay Đổi Kích Thước Hình Ảnh Thành Một Tỷ Lệ Khung Hình Khác

Trước đó mình đã đề cập rằng người dùng chỉ có thể chọn kích thước in phù hợp với tỷ lệ khung hình hiện tại. Nhưng nếu bạn cần một tỷ lệ khung hình khác thì sao? Ví dụ cần in hình ảnh 4 x 6 sao cho vừa với khung ảnh 8 x 10 thì làm thế nào?

Vấn Đề Với Các Tỷ Lệ Khung Hình Khác Nhau

Có một vấn đề xảy ra, đó là khi ta đặt giá trị Height thành 8 inch thì Width sẽ thành 12 inch (không phải 10) như thế nó sẽ không hoạt động:

Thay đổi giá trị Height sẽ khiến giá trị Width bị sai.

Nếu thử đổi giá trị Height thành 10 inch thì chiều cao sẽ thàn 6,666 inch. Đây vẫn không phải là điều mình muốn:

Thay đổi giá trị Width sẽ khiến giá trị Height bị sai.

Nếu thay đổi Width thành 8 inch thì Height sẽ đổi thành 5,333 inch. Không có cách nào để chọn kích thước 8 x 10 trong khi hình ảnh của mình đang sử dụng tỷ lệ 4 x 6:

Dù thế nào cũng không đặt được thành kích thước mong muốn.

Cách Cắt Theo Một Tỷ Lệ Khung Hình Khác

Để thay đổi kích thước hình ảnh thành một tỷ lệ khung hình khác, ta cần cắt hình ảnh theo tỷ lệ mới.

Bước 1: Hủy lệnh Image Size

Đóng hộp thoại Image Size mà không thực hiện bất kì thay đổi bào bằng cách nhấp vào Cancel:

Hùy thay đổi và đóng hộp thoại Image Size.

Bước 2: Chọn Crop Tool

Chọn Crop Tool trong Toolbar:

Chọn Crop Tool.

Bước 3: Đặt tỷ lệ khung hình mới trong Options Bar (thanh tùy chọn)

Trong Options Bar hãy nhập tỷ lệ cỡ ảnh mới vào mục Width và Height. Hãy nhớ chỉ điền số, không nhập thêm các đơn vị đo lường. Mình sẽ nhập 8 và 10 vào đây:

Nhập tỷ lệ khung hình mới trong Options Bar.

Bước 4: Thay đổi kích thước đường viền cắt nếu cần

PTS ngay lập tức định hình lại đường viền cắt theo tỷ lệ mới. Chúng ta có thể thay đổi kích thước đường viền nếu cần bằng cách kéo các chốt, tuy nhiên mình sẽ để nguyên đường viền:

Cắt hình ảnh theo tỷ lệ khung hình mới.

Bước 5: Cắt Hình Ảnh

Quay trở lại Options Bar, hãy đảm bảo tùy chọn Delete Cropped Pixels đã tắt. Bằng cách này bạn sẽ không thực hiện bất kỳ thay đổi nào vĩnh viễn:

Tắt tùy chọn Delete Cropped Pixels.

Sau đó để cắt hình ảnh theo tỷ lệ mới hãy nhấp vào dấu tích trong Options Bar:

Nhấp vào dấu tích.

Và đây là hình ảnh đã được cắt theo tỷ lệ khung hình 8 x 10. Tuy nhiên nó vẫn chưa thể in ở tỷ lệ 8 x 10 inch, chúng ta cần làm thêm một bước nữa:

Hình ảnh sau khi đã cắt.

Bước 6: Thay đổi kích thước hình ảnh trong hộp thoại Image Size

Bây giờ, để thay đổi kích thước hình ảnh phù hợp với việc in chúng ta chỉ cần làm theo các bước tương tự như lúc đầu đã học. Đầu tiên mở hộp thoại Image Size bằng cách đi tới menu Image rồi chọn Image Size:

Image > Image Size.

Bỏ chọn Resample sau đó nhập giá trị mới vào WidthHeight. Lần này thì không còn khó khăn khi chọn kích thước 8 x 10 nữa (tuy nhiều giá trị chiều rộng hơi nhỉnh chút)

Lưu ý giá trị độ phân giải đã giảm xuống dưới 300 pixel/inch vậy nên cần phải thực hiện việc lấy mẫu lại:

Tắt tùy chọn Resample, nhập giá trị Width và Height rồi kiểm tra giá trị Resolution.

Bật tùy chọn Resample sau đó thay đổi giá trị Resolution thành 300 pixel/inch (đối với máy in Epson là 360 ppi):

Bật Resample sau đó thay đổi giá trị Resolution thành 300 ppi.

Cuối cùng ở tùy chọn interpolation hãy chọn Automatic (hoặc chọn Preserve Details 2.0 nếu sử dụng Photoshop CC 2018 trở lên):

Chọn phương pháp interpolation.

Sau khi đã hài lòng với kích thước đã thay đổi, hãy nhấp OK để xác nhận thay đổi và đóng hộp thoại Image Size:

Nhấn OK để xác nhận thay đổi.

 

Các Lệnh Chỉnh Sửa Kích Thước Hình Ảnh Trong Photoshop

0

LỆNH CHỈNH SỬA KÍCH THƯỚC HÌNH ẢNH TRONG PHOTOSHOP CC – TÍNH NĂNG VÀ MẸO

Tìm hiểu tất cả về lệnh chỉnh sửa hình ảnh (Image Size) và cách tận dụng tối đa các tính năng tuyệt vời của nó.

Trong bài viết này mình sẽ giới thiệu nhanh về các tính năng trong hộp thoại Image Size của PTS (được thiết kế lại trong Photoshop CC). Hộp thoại Image Size không chỉ cho phép người dùng xem kích thước hiện tại của ảnh mà còn có thể thay đổi kích thước tại đây. Cho dù bạn cần phóng to hình ảnh để in hay thu nhỏ để phù hợp với trang web thì tất cả đều được thực hiện bằng một lệnh Image Size này.

Chúng ta sẽ bắt đầu xem xét tính năng cửa sổ xem trước mới và tốt nhất trong hộp thoại Image Size cũng như cách tận dụng tối đa tính năng này. Từ đó chúng ta sẽ tìm hiểu một số kích thước hình ảnh đặt trước mà bạn có thể chọn và nhập giá trị chiều rộng (Width), chiều cao (Height) và độ phân giải của riêng bạn. Đầu tiên chúng ta sẽ xem xét sự khác biệt giữ việc thay đổi kích thước và lấy mẫu lại một hình ảnh. Cuối cùng chúng ta sẽ tìm hiểu về cách đảm bảo thu nhỏ bất kì hiệu ứng layer nào được thêm vào cùng với hình ảnh.

Nếu bạn chưa quen với ảnh kĩ thuật số thì nên xem lại bài viết đầu tiên của chương này. Ở đó có giải thích tất cả về pixel, kích thước hình ảnh cũng như độ phân giải. Giờ thì hãy một mở một ảnh bất kì để có thể làm theo bài hướng dẫn này:

Mở một ảnh trên PTS. (Nguồn: Adobe Stock)

Lệnh Image Size Nằm Ở Đâu?

Hộp thoại Image Size chính là lệnh chính để thay đổi kích thước hình ảnh. Để mở nó, hãy chuyển đến menu Image rồi chọn Image Size. Hoặc dùng phím tắt Ctrl+Alt+I (Windows) / Command+Option+I (Macbook):

Image > Image Size.

Trong Photoshop CC, hộp thoại Image Size có cửa sổ xem trước ở bên trái và các tùy chọn để xem và thay đổi kích thước hình ảnh ở bên phải:

Hộp thoại Image Size trong Photoshop CC.

Cửa Sổ Xem Trước Hình Ảnh (Tính Năng Mới)

Adobe đã thiết kế lại hộp thoại Image Size trong Photoshop CC và thay đổi lớn nhất chính là cửa sổ xem trước (preview window). Không cần biết bạn đã phóng to hay thu nhỏ hình ảnh ở mức độ nào, cửa sổ xem trước sẽ cho phép bạn xem trước hình ảnh ở mức độ 100%. Điều này có nghĩa một pixel trong hình ảnh chiếm đúng 1 pixel trên màn hình. Nó cũng có nghĩa là bạn đang có cái nhìn chính xác nhất về hình ảnh khi đang thay đổi kích thước của nó.

Cuộn Hình Ảnh Bên Trong Cửa Sổ Xem Trước

Khi mở hộp thoại Image Size lần đầu tiên, cửa sổ xem trước có thể được căn giữa vào một khu vực không được hữu ích cho lắm. Như trong ví dụ của mình, nó đang hiển thị một phần trên mặt của người đàn ông. Nhưng hoàn toàn có thể thay đổi sang vị trí khác bằng cách nhấp và kéo bên trong cửa sổ:

Nhấp và kéo bên trong cửa sổ xem trước để thay đổi sang khu vực khác.

Chuyển Đến Một Khu Vực Cụ Thể

Ngoài việc cuộn, bạn cũng có thể chuyển đến một nơi cụ thể của hình ảnh bằng cách nhấp vào nó. Nếu di chuyển con chuột vào hình ảnh, bạn sẽ thấy biểu tượng con chuột đổi thành một hình vuông nhỏ. Nó đại diện cho cửa sổ xem trước. Hãy nhấp vào vị trí bạn cần và ngay lập tức vị trí đó sẽ được căn giữa trong cửa sổ xem trước:

Nhấp vào nơi bất kì trên ảnh để xem trước vị trí đó.

Thay Đổi Mức Thu Phóng Của Cửa Sổ Xem Trước

Mình đã đề cập rằng cửa sổ xem trước cho phép người dùng xem trước hình ảnh ở kích thước 100%. Tuy nhiên bạn vẫn có thể thay đổi mức độ thu phóng nếu cần. Hãy di chuyển chuột bên trong cửa sổ xem trước, nó sẽ hiển thị các tùy chọn thu phóng dọc theo phía dưới. Mức thu phóng hiện tại được hiển thị ở giữa. Nhấp vào dấu + để phóng to và dấu – để thu nhỏ.

Trong khi nhấn nút, nếu bạn đồng thời nhấn phím Ctrl (Windows) / Command (Macbook) rồi nhấp vào cửa sổ xem trước, bạn sẽ thực hiện lệnh phóng to. Để thu nhỏ, hãy giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook). Trên thực tế đa phần mọi người sẽ để ở mức 100%:

Thay đổi mức thu phóng của hình ảnh bên trong cửa sổ xem trước.

Khiến Bản Xem Trước Trở Nên Lớn Hơn

Cuối cùng để bản xem trước trở nên lớn hơn, hãy làm cho hộp thoại Image Size trở nên lớn hơn. Trên thực tế người dùng có thể thay đổi kích thước của nó tới mức khiến cho hộp thoại Image Size chiếm gần hết màn hình. Để thực hiện thay đổi kích thước hộp thoại này, hãy nhấp và kéo bất kì góc nào ra bên ngoài:

Cửa sổ xem trước thay đổi kích thước khi bạn thay đổi kích thước hộp thoại.

Xem Kích Thước Hình Ảnh Hiện Tại

Bên phải cửa sổ xem trước chính là nơi tìm thấy các tùy chọn khác nhau để xem và thay đổi kích thước hình ảnh. Kích thước hình ảnh hiện tại (tính bằng Megabyte (M) và pixel) được hiển thị ở trên cùng.

Kích Thước Hình Ảnh Hiện Tại Tính Bằng Megabyte (M)

Con số đầu tiên ngay cạnh dòng chữ Image Size chính là dung lượng hình ảnh đang chiếm trong bộ nhớ máy tính của bạn (RAM). Trong ví dụ của mình nó là 47,5 triệu. Con số này không liên quan gì đến số layer trong tài liệu hoặc kích thước tệp sẽ lớn như thế nào nếu hình ảnh được lưu dưới dạng JPG, PNG v.v. Nó đơn giản là kích thước của hình ảnh trong bộ nhớ và phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng pixel trong hình ảnh. Khi bạn thêm hoặc bớt số lượng pixel trong ảnh, con số này sẽ thay đổi:

Kích thước hiện tại của hình ảnh tính theo megabyte.

Kích Thước Hình Ảnh Hiện Tại Tính Bằng Pixel

Ngay dưới Image Size chính là Dimension, nó hiển thị kích thích của hình ảnh tính theo pixel. Trong ví dụ của mình, hình ảnh có chiều rộng 4992 pixel và chiều cao 3328 pixel. Chúng ta không thể thay đổi số lượng pixel ở đây bởi nó chỉ hiển thị cho ta thấy kích thước hiện tại. Khi bạn thực hiện thay đổi đối với các kích thước thì ở đây sẽ luôn được cập nhật theo thay đổi đó:

Kích thước hình ảnh hiện tại tính theo pixel.

Thay Đổi Đơn Vị Đo

Ngoài pixel, chúng ta có thể đổi sang để xem kích thước hiện tại bằng cách sử dụng đơn vị đo lường khác. Hãy nhấp vào mũi tên bên cạnh từ “Dimensions” để chọn một đơn vị đo khác như inch hay percent (phần trăm). Tuy nhiên phổ biến và hữu ích nhất vẫn là tính bằng pixel:

Các đơn vị đo lường có trong PTS.

“Fit To”

Cùng với việc cho phép thay đổi kích thước hình ảnh theo cách thủ công, hộp thoại Image Size cũng cung cấp cho chúng ta các kích thước đặt trước để lựa chọn. Có thể tìm thấy chúng trong tùy chọn Fit To ngay bên dưới kích thước hình ảnh hiện tại:

Tùy chọn “Fit To”.

Nhấp vào Original Size (cài đặt mặc định) để mở danh sách các preset (cài đặt trước). Chúng bao gồm các loại đo lường cụ thể như pixel, inch hay các độ phân giải đặt trước. Một số thiết kế để in, ngoài ra có những cài đặt khác dành cho web hoặc xem màn hình chung:

Các kích thước hình ảnh cài đặt trước.

Đặt Hình Ảnh Trong Một Kích Thước Nhất Định

Thật tốt khi có những preset như này để nhanh chóng thay đổi kích thước hình ảnh. Nhưng lưu ý tùy chọn này được gọi là Fit To, không phải Resize To (hai cái này có sự khác biệt khá quan trọng). Việc chọn một trong các preset này sẽ thay đổi kích thước đã chọn. Nhưng nó có thể không phù hợp hoàn toàn với hình ảnh. Tất cả phụ thuộc vào tỷ lệ khung hình của hình ảnh.

Ví dụ mình muốn in hình ảnh dưới dạng 4 x 6, thì sẽ chọn preset 4 x 6 in 300 dpi:

Chọn preset 4 x 6.

Điều này sẽ đổi chiều rộng mới của hình ảnh thành 4 inch và chiều cao thành 6 inch. Lúc này sẽ có một vấn đề xảy ra. Preset này giả định hình ảnh với chiều cao lớn hơn chiều rộng, nhưng trên thực tế ảnh của chúng ta có chiều rộng lớn hơn chiều cao và vì thế tỷ lệ khung hình và preset không khớp nhau.

Vì vậy ta sẽ thấy giá trị Width là 4 inch, trong khi đó Height chỉ có 2,667 inch. Nói cách khác hình ảnh vẫn sẽ vừa với kích thước 4 x 6 mới đặt nhưng do tỷ lệ khung hình, nó sẽ không khớp toàn bộ chiều cao:

Sự cố khi kích thước đặt trước không khớp với tỷ lệ khung hình của hình ảnh.

Hoán Đổi Hai Chiều Với Nhau

Trường hợp này khắc phục khá dễ vì vấn đề duy nhất là hướng của hình ảnh. Ta có thể hoán đổi chiều rộng và chiều cao của preset bằng cách thủ công. Đổi Width từ 4 thành 6 inch, và đổi Height từ 6 thành 4 inch. Giờ thì hình ảnh đã vừa vặn hoàn hảo:

Có thể hoán đổi hướng để khắc phục sự cố.

Điều Gì Sẽ Xảy Ra Nếu Preset Và Tỷ Lệ Khung Hình Không Khớp Nhau?

Vấn đề chính là khi tỷ lệ khung hình và preset hoàn toàn không khớp. Ví dụ mình cố gắng thay đổi kích thước hình ảnh để in dưới dạng 8 x 10 bằng cách chọn preset 8 x 10 in 300 dpi:

Chọn preset 8 x 10.

Vấn đề bắt đầu phát sinh tại đây, mình không thể nào có hình ảnh phù hợp với kích thước mới. Nếu đổi chiều rộng thành 8 inch thì chiều cao sẽ bị sai:

Với chiều rộng 8 inch, chiều cao không khớp với giá trị đặt trước.

Kể cả khi thử hoán đổi chiều rộng thành 10 inch theo cách thủ công, thì chiều cao lại sai:

Không thể khắc phục sự cố bằng cách hoán đổi.

Sự thật là không có cách nào để thay đổi kích thước hình ảnh có tỷ lệ khung hình 4 x 6 thành 8 x 10. Cách duy nhất để làm điều này (không gây biến dạng hình ảnh) là cắt hifh ảnh theo tỷ lệ khung hình mới và thay đổi kích thước của nó. Mình sẽ nói về cách thực hiện này trong hướng dẫn sau.

Cách Reset Cài Đặt Trong Image Size

Có thể thấy rằng tính năng Fit To không phải lúc nào cũng hữu dụng. Trước khi xem xét cách để thay đổi kích thước hình ảnh, hãy reset các cài đặt trong hộp thoại Image Size về cài đặt gốc.

Nếu đã thực hiện các thay đổi trong hộp thoại Image Size (và chưa nhấn nút ok để xác nhận thay đổi) bạn có thể khôi phục về kích thước bạn đầu abwngf cách nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook). Thao tác này sẽ chuyển nút Cancel bên dưới thành nút Reset. Bấm vào đây để khôi phục cài đặt gốc:

Nhấn giữ phím Alt (Windows) / Option (Macbook) để chuyển Cancel thành Reset.

Thay Đổi Kích Thước Hình Ảnh Theo Cách Thủ Công

Cách chính để thay đổi kích thước hình ảnh là tự nhâp các giá trị vào từng mục Width, HightResolution. Lưu ý có một tùy chọn thứ tư (ngay dưới Resolution) là Resample. Lựa chọn này có tác dụng: thay đổi kích thước hình ảnh hoặc lấy mẫu lại:

Các tùy chọn trong Image Size.

Sự Khác Biệt Giữa Thay Đổi Kích Thước Và Lấy Mẫu Lại

Thay đổi kích thước là không thay đổi số lượng pixel. Tất cả những gì chúng ta làm là thay đổi kích thước hình ảnh sẽ in, bởi vì số lượng pixel không đổi nên việc thay đổi kích thước không ảnh hưởng đến tệp của hình ảnh hay việc hiển thị trên màn hình. Nó chỉ ảnh hưởng đến kích thước in.

Lấy mẫu lại thì lại khác, nó sẽ làm thay đổi số lượng pixel. Chúng ta có thể thêm nhiều pixel hơn (gọi là upsampling) hoặc loại bỏ các pixel (gọi là downampling. Upsampling được sử dụng để phóng to hình ảnh, thường sử dụng khi chúng ta cần in một bức ảnh lớn hơn kích thước pixel hiện tại. Dowmsampling thường được dùng để giảm kích thước tệp tổng thể khi chúng ta muốn up nó lên web hay gửi qua email.

Thay Đổi Kích Thước Hình Ảnh

Mình sẽ nói rõ hơn về thay đổi kích thước và lấy mẫu lại trong hướng dẫn tiếp theo. Tóm lại, nếu chỉ muốn thay đổi kích thước in của hình ảnh thì hãy tắt tùy chọn Resample:

Tắt tùy chọn Resample.

Sau đó nhập kíc h thước mới vào phần Width, Height. Cả hai mục này liên kết với nhau vì vậy việc thay đổi một cái sẽ tự động thay đổi cái còn lại. Hãy nhớ chúng ta chỉ có thể chọn kích thước phù hợp với tỷ lệ khung hình. Nếu hình ảnh có tỷ lệ khung hình 4 x 6 mà chúng ta cứ cố chọn in ở dạng 5 x 7 hay 8 x 10 thì nó sẽ không hoạt động.

Độ Phân Giải Hình Ảnh Là Gì?

Khi tắt tùy chọn Resample thì Resolution sẽ được liên kết với Width và Height. Có nghĩa là khi bạn thay đổi hai giá trị Width (chiều rộng) và Height (chiều cao) thì Resolution (độ phân giải) cũng sẽ thay đổi theo và ngược lại. Ví dụ, mình giảm kích thước in xuống 6 x 4 inch thì độ phân giải đã tăng từ 300 pixel/inch lên thành 832 pixel/inch:

Tắt Resample để thay đổi kích thước hình ảnh.

Vậy độ phân giả hình ảnh là gì? Độ phân giải kiểm soát số lượng pixel trong hình ảnh sẽ được in lên trên mỗi inch giấy theo cả chiều ngang và chiều dọc. Đó là lý do vì sao độ phân giải được đo bằng đơn vị pixel/inch (hoặc ppi). Chúng ta không thay đổi tổng số pixel trong hình ảnh mà thay đổi kích thước in bằng cách thay đổi mức độ chặt chẽ của các pixel khi in trên giấy. Giá trị độ phân giải cao khiến cho kích thước in nhỏ hơn và độ phân giải thấp khiến cho kích thước in lớn hơn.

Lấy Mẫu Lại Hình Ảnh

Để lấy mẫu lại hình ảnh và thay đổi số lượng pixel hãy bật tùy chọn Resample:

Bật tùy chọn Resample.

Upsampling

Sau khi bật Resample, Width và Height sẽ không còn được liên kết với Resolution. Vì vậy khi mình tăng gấp đôi giá trị Width từ 6 lên 12 inch, thì PTS sẽ tự động tăng gấp đôi giá trị Height từ 4 lên 8 inch để giữ cho tỷ lệ khung hình không bị thay đổi. Trong khi hai giá trị Width và Height thay đổi thì lúc này Resolution vẫn giữ nguyên:

Thay đổi Width và Height không làm ảnh hưởng tới Resolution.

Tuy nhiên số lượng pixel thực tế trong ảnh đã thay đổi. Nếu nhìn vào kích thước trên cùng, có thể thấy chiều rộng hiện đã tăng gấp đôi (từ 4992 pixel lên thành 9984 pixel), chiều cao cũng tương tự (từ 3328 pixel lên 6656 pixel). Vậy là hiện tại chúng tó có gấp 4 lần số pixel trong ảnh (gấp đôi chiều rộng và chiều cao). Kích thước hình ảnh trong bộ nhớ cũng đã tăng gấp 4 lần (từ 47,5 triệu lên gần 190 triệu):

Upsampling làm tăng kích thước hình ảnh.

Downsampling

Nếu giảm độ phân giải, từ 832 pixel/inch xuống mức hợp lý hơn như 300 pixel/inch thì có thể thấy cả kích thước pixel và kích thước hình ảnh trong bộ nhớ đều giảm (lưu ý đã bật tùy chọn Resample):

Downsampling sẽ làm giảm kích thước hình ảnh.

Phương pháp Interpolation

Ở bên phải tùy chọn Resample là tùy chọn Interpolation. Nó là phương pháp PTS sử dụng để vẽ lại hình ảnh khi thêm hoặc xóa pixel và nó được đặt là Automatic theo mặc định. Vì nó chỉ áp dụng cho việc lấy mẫu lại, nên nếu tắt tùy chọn Resample thì nó cũng sẽ không khả dụng:

Tùy chọn Interpolation.

Nếu nhấp vào tùy chọn này, PTS sẽ mở ra danh sách các lựa chọn. Một số cái là lựa chọn tốt nhất dành cho upsampling và downsampling. Những điều này có thể ảnh hưởng lớn đến chất lượng hình ảnh vì thế hầu hết chúng ta nên chọn Automatic. Trường hợp duy nhất cần thay đổi đó là khi sử dụng Photoshop CC 2018 (hoặc mới hơn) và bạn cần phóng to hình ảnh. Trong trường hợp này mình sẽ thay đổi sang lựa chọn Preserve Details 2.0 (mình sẽ nói rõ hơn ở bài viết khác):

Phương pháp interpolation.

Cách Chia Tỷ Lệ Hiệu Ứng Từng Lớp

Cuối cùng nếu hình ảnh của bạn đang sử dụng hiệu ứng lớp (đổ bóng, nét vẽ, ánh sáng bên ngoài v.v.) thì có thể bạn sẽ muốn các hiệu ứng này được chia tỷ lệ cùng hình ảnh. Vì vậy trước khi nhấp vào OK để chấp nhận kích thước hình ảnh mới, hãy nhấp vào biểu tượng bánh răng ở phía trên bên phải của hộp thoại Image Size và đảm bảo rằng Scale Styles đang được chọn:

Bật Scale Styles để thay đổi kích thước hiệu ứng layer.

Chấp Nhận Hoặc Hủy Kích Thước Hình Ảnh Mới

Khi bạn đã sẵn sàng thay đổi kích thước hình ảnh, hãy nhấp vào OK để xác nhận và đóng hộp thoại Image Size. Để hủy cài đặt hãy nhấn vào Cancel:

Nhấn Ok để thay đổi kích thước hình ảnh, hoặc Cancel để hủy.

Vậy là chúng ta đã tìm hiểu xong và hộp thoại Image Size trong PTS, ở bài viết tiếp theo chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về cách thay đổi kích thước hình ảnh để in.

 

Các Thủ Thuật Và Phím Tắt Để Điều Hướng Hình Ảnh Trong Photoshop

0

ĐIỀU HƯỚNG HÌNH ẢNH TRONG PHOTOSHOP: MẸO THỦ THUẬT VÀ PHÍM TẮT

Tăng tốc quy trình làm việc với các mẹo, thủ thuật và phím tắt cần thiết để hiều hướng hình ảnh trong PTS. Bao gồm các lệnh điều hướng hình ảnh cơ bản, bảng điều hướng và Rotate View Tool.

Bài hướng dẫn này bao gồm tất cả các mẹo, thủ thuật và phím tắt mà người dùng cần biết để điều hướng hình ảnh như một người dùng PTS chuyên nghiệp. Tìm hiểu về những cách nhanh nhất để sử dụng các lệnh điều hướng hình ảnh cơ bản của PTS như Zoom In, Zoom Out, Fit on Screen100%. Đồng thời cũng tìm hiểu về các mẹo và thủ thuật để tận dụng tối đa các công cụ điều hướng hình ảnh của PTS (Zoom Tool, the Hand ToolRotate View Tool). Không chỉ thế chúng ta sẽ còn biết được cách tốt nhất để phóng to hình ảnh bằng bảng điều hướng Navigator. Bài viết này phù hợp cho cả Photoshop CS6 và Photoshop CC.

Các Phím Tắt Điều Hướng Hình Ảnh Cơ Bản

Zoom In và Zoom Out

Zoom InZoom Out là cách cơ bản để phóng to và thu nhỏ hình ảnh trong PTS. Chúng nằm ngay trong menu View. Để sử dụng lệnh Zoom In bằng bàn phím:

Đối với Windows: Nhấn giữ phím Ctrl và phím +

Đối với Macbook: Nhấn giữ phím Command và phím +

Để sử dụng lệnh Zoom Out từ bàn phím:

Đối với Windows: Nhấn giữ phím Ctrl và phím

Đối với Macbook: Nhấn giữ phím Command và phím

Fit On Screen

Lệnh Fit On Screen hiển thị hình ảnh ở mức độ lớn nhất có thể trong khi vẫn hiển thị hoàn toàn hình ảnh trên màn hình. Nó cũng nằm ngay trong menu View. Để chọn Fit on Screen từ bàn phím:

Đối với Windows: Nhấn Ctrl+0

Đối với Macbook: Nhấn Command+0

Ngoài ra bạn có thể chọn Fit on Screen bằng cách nhấp đúp vào Hand Tool trên Toolbar:

Nhấn Ctrl+0 (Windows) / Command+0 (Macbook) để hình ảnh vừa khớp trên màn hình. (Nguồn: Adobe Stock)

100%

Lệnh 100% (hay còn gọi là “Actual Pixels”) ngay lập tức chuyển hình ảnh lên mức thu phóng 100%. Ở mức thu phóng này, mỗi pixel trong hình ảnh sẽ chiếm đúng một pixel trên màn hình, cho phép bạn xem hình ảnh một cách đầy đủ chi tiết. Đây chính là mức thu phóng lý tưởng để làm sắc nét hình ảnh. Lệnh 100% này nằm trong menu View. Hoặc dùng phím tắt:

Đối với Windows: Ctrl+1

Đối với Macbook: Command+1

Hoặc có thể chọn bằng cách nhấp đúp vào Zoom Tool trong Toolbar:

Zoom ảnh ở mức 100%.

Các Phím Điều Hướng Màn Hình

Dưới đây là một số phím tắt tiện dụng để điều hướng một cách nhanh chóng xung quanh hình ảnh khi đang ở chế độ phóng to:

  • Nhấn phím Home trên bàn phím để chuyển ngay về phía trên bên trái của hình ảnh.
  • Phím End để chuyển tới phía dưới bên phải hình ảnh. Page Up để di chuyển lên toàn màn hình.
  • Page Down để di chuyển xuống toàn màn hình.
  • Ctrl+Page Up (Windows) / Command+Page Up (Macbook) để di chuyển toàn màn hình sang trái.
  • Ctrl+Page Down (Windows) / Command+Page Down (Macbook) để di chuyển toàn màn hình sang phải.

Phím Tắt Của Zoom Tool

Chọn Zoom Tool

Nhấn phím Z để chọn Zoom Tool. Sau đó nhấp vào hình ảnh để phóng to. Để chuyển công cụ từ chế độ “Zoom In” sang “Zoom Out” chỉ cần nhấn giữ phím Alt (Windows) hoặc Option (Macbook).

Để tạm thời chuyển sang Zoom Tool trong khi đang dùng bất kì công cụ nào, hãy nhấn giữ Ctrl+spacebar (Windows) / Command+spacebar (Macbook). Bấm vào hình ảnh để phóng to sau đó bỏ giữ phím để chuyển về công cụ trước đó.

Để tạm thời chuyển sang Zoom Tool với chức năng thu nhỏ, nhấn giữ Ctrl+Alt+spacebar (Windows) / Option+spacebar (Macbook). Nhấp vào hình ảnh để thu nhỏ rồi bỏ giữ phím để quay lại công cụ đang hoạt động trước đó.

Thu Phóng Tất Cả Các Ảnh

Bạn có thể thu phóng tất cả hình ảnh cùng lúc khi đang mở hai hay nhiều hình ảnh trên PTS. Chỉ cần nhấn giữ phím Shift trên bàn phím khi phóng to hoặc thu nhỏ. Bỏ phím Shift để quay lại chế độ thu phóng từng ảnh:

Nhấn giữ nút Shift khi thu phóng để có thể thực hiện thu phóng tất cả ảnh cùng lúc.

Thu Phóng Liên Tục

Để phóng to liên tục tại một vị trí, nhấn giữ vào hình ảnh bằng Zoom Tool. PTS sẽ phóng to hình ảnh dần dần cho tới khi bạn thả chuột. Để thu nhỏ liên tục, nhấn thêm phím Alt (Windows) / Option (Macbook).

Công Cụ Thu Phóng “Spring-Loaded”

Hầu hết các công cụ PTS đầu có thể truy cập dưới dạng công cụ spring-loaded. Nhấn giữ phím tắt của mỗi công cụ để chuyển sang công cụ này. Sau khi nhả phím, PTS sẽ ngay lập tức chuyển trở lại công cụ đang hoạt động trước đó.

Để sử dụng Zoom Tool như một công cụ spring-loaded, hãy nhấn giữ phím Z trên bàn phím. Nhấp vào hình ảnh để phóng to hoặc nhấn thêm phím Alt (Windows) / Option (Macbook) để thu nhỏ. Sau đó bỏ phím Z để trở về công cụ trước đó.

Scrubby Zoom

Tính năng Scrubby Zoom là cách nhanh nhất để thu phóng hình ảnh. Nhấn giữ Ctrl+spacebar (Windows) / Command+spacebar (Macbook) để chọn Zoom Tool, sau đó nhấp vào hình ảnh và kéo sang trái (để phóng to) hoặc phải(để thu nhỏ). Kéo nhanh hoặc chậm để thay đổi tốc độ thu phóng.

Phím Tắt Hand Tool

Chọn Hand Tool

Sử dụng Hand Tool để cuộn, xoay hình ảnh trong PTS. Nhấn phím H để chọn Hand Tool. Hoặc có thể tạm thời chuyển sang Hand Tool bằng cách nhấn giữ phím cách. Bấm và kéo hình ảnh để đặt lại vị trí trong cửa sổ document sau đó thả phím cách để chuyển về công cụ trước đó.

Cuộn tất cả ảnh

Để cuộn tất cả hình ảnh đang mở cùng lúc với Hand Tool, chỉ cần nhấn giữ phím Shift rồi nhấp và kéo một trong các ảnh.

Birds Eye View

Khi phóng to hình ảnh, tính năng Birds Eye View cho phép nhanh chóng chuyển từ phần này sang phần khác của hình ảnh. Nhấn giữ phím H để sử dụng chế độ Birds Eye View. PTS sẽ ngay lập tức phóng to hình ảnh tại khu vực đó để nó vừa khớp trên màn hình. Kéo khung chữ nhật qua khu vực bạn muốn phóng to, sau đó bỏ giữ phím H. PTS sẽ ngay lập phóng to khu vực bạn đã chọn và quay trở lại công cụ đang hoạt động trước đó.

Phím Tắt Navigator Panel

Chọn Khu Vực Để Phóng To

Cách nhanh nhất để phóng to hình ảnh khi sử dụng bảng Navigator (bảng điều hướng) của PTS là kéo vùng chọn xung quanh khu vực bạn cần. Nhấn giữ phím Ctrl (Windows) / Command (Macbook) và kéo ra một vùng chọn (View Box) xung quanh khu vực muốn phóng to. Thả chuột và PTS sẽ ngay lập tức phóng to khu vực đó.

Nhấn giữ phím Ctrl (Windows) / Command (Macbook) và lựa chọn một khu vực để phóng to.

Phím Tắt Rotate View Tool

Selecting the Rotate View Tool

Với Rotate View Tool bạn có thể dễ dàng xoay góc xem của hình ảnh khi làm việc. Nhấn phím R để chọn công cụ này.

Xoay Từng Bước

Theo mặc định công cụ này sẽ xoay góc tự do khi bạn kéo. Để chuyển góc tới các bước tăng dần 15 độ, hãy nhấn giữ phím Shift khi kéo.

“Spring-loaded”

Cách tốt nhất để sử dụng Rotate View Tool là coi nó như một công cụ spring-loaded. Khi bất kì công cụ nào khác đang hoạt động, chỉ cần nhấn giữ phím R để tạm thời chuyển sang Rotate View Tool. Nhấp và kéo bên trong cửa sổ document để xoay chế độ xem, sau đó thả phím R để trở về công cụ đang hoạt động trước đó.

Đặt Lại Chế Độ Xem

Để đặt lại chế độ xem, khôi phục hình ảnh về vị trí thẳng đứng. Hãy nhấn phím Esc hoặc nhấp đúp vào công cụ Rotate View Tool trên Toolbar.

 

Hướng Dẫn Xoay Khung Nền Bằng Rotate View Tool

0

HƯỚNG DẪN XOAY KHUNG NỀN BẰNG ROTATE VIEW TOOL

Rotate View Tool giúp cho việc chỉnh sửa, tô vẽ trong PTS dễ dàng hơn bao giờ hết. Tìm hiểu cách xoay khi đang làm việc, tận dụng tính năng “spring-load” để có kết quả tốt nhất.

Nếu đã từng vẽ bằng bút chì hay từng tô bằng bút chì màu, chúng ta đều hiểu rằng đôi khi cần phải xoay giấy để việc tô vẽ trở nên thuận lợi hơn. Đối với hình ảnh trong PTS cũng tương tự. Xoay góc nhìn hình ảnh sẽ giúp bạn dễ dàng chỉnh sửa hơn. PTS đã cung cấp cho người dùng Rotate View Tool để làm điều này. Vì thế trong bài viết này hãy cùng nhau tìm hiểu về Rotate View Tool.

Lưu ý đây là Rotate View (không phải Rotate Image). Giống như việc chúng ta chỉ xoay tờ giấy chứ không xoay bản vẽ. Rotate View Tool không thực sự xoay hình ảnh của chúng ta. Thay vào đó nó xoay khung nền mà hình ảnh đang nằm trên đó. Nói cách khác nó xoay chế độ xem của chúng ta về hình ảnh nhưng không trực tiếp xoay hình ảnh.

Điều này khá quan trọng bởi xoay một hình ảnh là một hình động tác động đến kết cấu. Mỗi lần thực hiện xoay hình ảnh thì PTS cần vẽ lại các pixel. Và sau mỗi lần PTS vẽ lại đó, hình ảnh sẽ mất đi độ chi tiết. Bởi vì Rotate View Tool xoay khung nên chứ không xoay hình ảnh. Cho nên hình ảnh sẽ không bao giờ bị tác động (gây tổn hại). Chúng ta có thể tự do thay đổi góc nhiều lần nếu cần mà không hề làm giảm chất lượng. Và tất nhiên rất dễ dàng dể đưa hình ảnh trở lại góc ban đầu sau khi hoàn thành công việc. Hướng dẫn này phù hợp cho cả Photoshop CC và Photoshop CS6.

Để bắt đầu đi vào bài hướng dẫn, trước tiên hãy mở một ảnh bất kì trong PTS:

Mở ảnh trong PTS. (Nguồn: Adobe Stock)

Chọn Rotate View Tool

Công cụ này nằm cùng vị trí với Hand Tool trong Toolbar. Theo mặc định, Hand Tool là công cụ đại diện còn Rotate View Tool bị ẩn sau nó. Để chọn công cụ này, hãy nhấp giữ vào biểu tượng Hand Tool cho tới khi xuất hiện menu ẩn. Chọn Rotate View Tool từ menu ẩn này. Lưu ý phím tắt của nó là R (đây là một điều quan trọng):

Theo mặc định, Rotate View Tool ẩn sau Hand Tool trên Toolbar.

Cách Để Xoay Chế Độ Xem

Sau khi chọn Rotate View Tool, cách dễ dàng nhất để xoay chế độ xem hình ảnh đó là nhấp và kéo vào bên trong cửa sổ document. Nhấp vào hình ảnh bằng Rotate View Tool rồi giữ nút chuột. Một la bàn sẽ xuất hiện ở trung tâm. Điểm đánh dấu màu đỏ ở đầu la bàn luôn hướng đến đầu thực tế của hình ảnh, vì thế kể cả khi xoay góc bạn cũng sẽ biết được hướng của bức ảnh như nào:

Chọn Rotate View Tool rồi nhấn giữ chuột để xuất hiện la bàn.

Để xoay chế độ xem, hãy giữ nút chuột của bạn và kéo hình ảnh. Hoàn toàn có thể kéo theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại. Lưu ý la bàn vẫn hướng lên vị trí trên cùng thực tế của bức ảnh khi bạn thực hiện xoay chế độ xem. Theo mặc định PTS cho phép bạn xoay tự do. Nhưng nếu nhẫn giữ phím Shift khi kéo thì bạn sẽ xoay được lần lượt theo các bước 15 độ:

Nhấn giữ chuột và kéo hình ảnh để xoay chế độ xem.

Nhập Một Góc Xoay Cụ Thể

Nếu biết chính xác góc bạn cần, hãy nhập trực tiếp vào ô Rotation Angle nằm trên thanh tùy chọn (Option Bar). Nhấn vào trong ô đó để đánh dấu góc hiện tại sau đó nhập giá trị mới. PTS sẽ tự động thêm biểu tượng ( ° ). Nhấn Enter (Windows) / Return (Macbook) để xác nhận. Hoặc nhấn Shift+Enter (Windows) / Shift+Return (Macbook) để đánh dấu giá trị mới. Điều này cho phép bạn nhập nhanh các góc độ khác nhau mà không cần nhấp vào trong ô liên tục:

Sử dụng Rotation Angle để xoay chế độ xem ở một góc cụ thể.

Thay Đổi Rotation Angle Bằng Thanh Trượt Scrubby

Một cách khác để thay đổi giá trị góc xoay đó là sử dụng thanh trượt Scrubby. Di chuột tới “Rotation Angle” trên thanh tùy chọn. Con trỏ chuột sẽ thay đổi thành biểu tượng bàn tay với các mũi tên chỉ hướng trái phải. Đây chính là thanh trượt Scrubby. Nhấp và kéo sang phải để tăng góc xoay và ngược lại nhấp kéo sang trái để giảm góc xoay theo gia số 1 độ. Nhấn giữ phím Shift khi kéo bằng thanh trượt Scrubby để thay đổi góc xoay theo gia số 10 độ:

Sử dụng thanh trượt Scrubby.

Đặt Lại Chế Độ Xem

Để đặt lại chế độ xem và khôi phục hình ảnh về vị trí ban đầu, hãy nhấn vào Reset View trên thanh tùy chọn. Hoặc nhấn phím Esc. Ngoài ra còn có thể dùng cách nhấp đúp vào Rotate View Tool trên Toolbar:

Nhấp vào “Reset View” để đặt lại chế độ xem.

Sử Dụng “Spring-Loaded”

Hãy một lần nữa tận dụng tính năng spring-loaded của PTS. Nếu bạn nắm được phím tắt của công cụ, việc nhấn giữ phím tắt đó trên bàn phím sẽ giúp bạn tạm thời chuyển sang làm việc với công cụ đó (trong suốt quá trình giữ phím). Sau khi bỏ giữ phím PTS sẽ ngay lập tức chuyển về công cụ đang hoạt động trước đó. Sử dụng “spring-loaded” chính là cách nhanh nhất để làm việc.

Trước đó mình đã nhắc đến phím tắt của Rotate View Tool là phím R. Khi công cụ khác đang hoạt động. Hãy nhấn giữ phím R để tạm thời chuyển sang Rotate View Tool. Nhấp và kéo hình ảnh để xoay chế độ xem rồi sau đó bỏ giữ phím để quay lại công cụ đang hoạt động trước đó. Ở chế độ “spring-loaded”, bạn không có quyền truy cập vào bất kì tùy chọn nào của Rotate View Tool trên thanh tùy chọn. Vì vậy nếu muốn đặt lại chế độ xem về bạn đầu, hãy nhấn phím Esc:

Nhấn giữ phím R để tạm thời chuyển sang Rotate View Tool.

Xoay Chế Độ Xem Cho Tất Cả Ảnh Cùng Lúc

Chúng ta đã tìm hiểu cách xoay đối với một ảnh. Nhưng PTS có thể giúp bạn xoay chế độ xem cho nhiều ảnh cùng lúc. Ví dụ bên dưới là hình ảnh thứ hai mình mở. PTS vẫn mở từng ảnh trong một cửa sổ document riêng biệt. Mình đã chuyển sang hình ảnh thứ hai bằng cách nhấp vào tab của nó:

Hình ảnh thứ hai mở trong PTS. (Nguồn: Adobe Stock)

Xem Nhiều Ảnh Trên Màn Hình

Theo mặc định người dùng chỉ có thể xem một ảnh trên màn hình tại thời điểm nhất định. Tuy nhiên ta có thể xem hai hay nhiều ảnh cùng lúc bằng chế độ multi-document. Hãy đi tới thanh menu Window rồi chọn Arrange. Từ đây chọn chế độ dựa trên số lượng ảnh của bạn. Bởi vì mình có 2 ảnh nên sẽ chọn bố cục 2-up Vertical:

Window > Arrange > 2-up Vertical.

Sau khi chọn bố cục “2-up Vertical”, giờ đây hai hình ảnh đã cùng xuất hiện trên màn hình. Để chuyển về bố cục mặc định của PTS, chỉ cần quay lại menu Window, chọn Arrange rồi chọn Consolidate All to Tabs:

Hai hình ảnh cùng hiển thị trên màn hình. (Nguồn: Adobe Stock)

Tùy Chọn “Rotate All Windows

Để xoay tất cả hình ảnh đang mở cùng lúc, hãy đảm bảo rằng bạn đã chọn Rotate View Tool trong Toolbar (bởi vì tính năng “spring-loaded” sẽ không cấp quyền truy cập vào các tùy chọn của công cụ). Sau đó chọn Rotate All Windows trên thanh tùy chọn:

Sử dụng tùy chọn “Rotate All Windows” để xoay chế độ xem nhiều ảnh cùng lúc.

Nhấn giữ vào bất kì hình ảnh nào sau đó kéo để xoay chế độ xem của hình ảnh đó. Ban đàu có vẻ sẽ chỉ có một ảnh đang được xoay:

Ảnh bên trái đã xoay, ảnh bên phải vẫn giữ nguyên.

Ngay sau khi thả chuột, chế độ xem của những hình ảnh còn lại sẽ ngay lại tức được xoay cùng theo đúng góc đó:

Các ảnh khác sẽ xoay cùng một góc sau khi thả chuột.

Đặt Lại Chế Độ Xem Cho Tất Cả Các Ảnh Đang Mở

Để đặt lại chế độ xem cho tất cả các ảnh đang hoạt động, hãy đảm bảo rằng bạn vẫn chọn tùy chọn Rotate All Windows trên thanh tùy chọn. Sau đó nhấp vào nút Reset View:

Đặt lại chế độ xem.

Tùy Chọn “Match Rotation”

Cuối cùng, nếu đang xem nhiều hình ảnh ở các góc khác nhau, bạn hoàn toàn có thể khớp tất cả ảnh về cùng một góc. Đầu tiên chọn ảnh có góc xoay mà bạn muốn các ảnh khác sẽ khớp theo. Sau đó đi tới menu Window, chọn Arrange rồi chọn Match Rotation. Tất cả hình ảnh sẽ cùng được xoay tới một góc giống như hình ảnh bạn đã chọn:

Sử dụng “Match Rotation” để khớp các ảnh về cùng một góc giống nhau.

 

Hướng Dẫn Sử Dụng Birds Eye View Để Điều Hướng Hình Ảnh Trong Photoshop

0

ĐIỀU HƯỚNG HÌNH ẢNH NHANH CHÓNG BẰNG BIRDS EYE VIEW

Học cách sử dụng Birds Eye View để điều hướng xung quanh hình ảnh một cách dễ dàng khi đang phóng to, bao gồm cả thủ thuật để truy cập tinh năng ẩn (nhưng cực kì tuyệt vời này).

PTS có một tính năng ẩn giúp người dùng dễ dàng điều hướng hình ảnh khi phóng to. Nó được gọi là Birds Eye View. Khi bạn phóng to hình gần đối tượng bạn muống, chế độ này sẽ ngay lập tức phóng to khu vực đó sao cho vừa với toàn bộ màn hình. Sau đó bạn có thể phóng to trở lại cùng một điểm hoặc chọn một phần khác của hình ảnh để phóng to. Nói cách khác Birds Eye View cho phép người dùng dễ dàng chuyển từ phần này sang phần khác của hình ảnh mà không cần thực hiện thu phóng.

Nhưng chúng ta sẽ không thể tìm thấy tùy chọn hay cộng cụ Birds Eye View trong PTS. Cần phải có một thủ thuật bí mật để có thể sử dụng được chế độ này. Trong bài viết trước mình đã giới thiệu qua về Birds Eye View, nhưng bởi vì nó rất hữu ích nên mình sẽ dành hẳn một bài viết riêng này cho nó. Bài hướng dẫn tương thích với cả Photoshop CC và Photoshop CS6.

Trước tiên hãy mở một ảnh trong PTS:

Mở ảnh trong PTS. (Nguồn: Adobe Stock)

Phóng To Để Có Cái Nhìn Cận Cảnh Hơn

Để sử dụng được Birds Eye View, trước tiên ta cần phóng to hình ảnh. Hãy sử dụng Zoom Tool (trên Toolbar):

Chọn Zoom Tool.

Sau đó nhấp vào một điểm trong hình ảnh để phóng to. Mỗi lần nhấp bằng Zoom Tool, hình ảnh sẽ phóng to gần hơn. Mình sẽ phóng to khuôn mặt của người đàn ông bên trái, có thể thấy rằng giờ đây khuôn mặt của anh ta hiện ở phía trước và nằm chính giữa trong cửa sổ document:

Sử dụng Zoom Tool để phóng to một người trong ảnh.

Cách Sử Dụng Birds Eye View

Nếu như muốn giữ mức thu phóng hiện tại nhưng chuyển sang vị trí của một người khác trong ảnh thì phải làm sao? Hầu hết mọi người sẽ sử dụng Hand Tool để làm điều này. Đương nhiên nó không hề sai. Nhưng có một cách tốt và nhanh hơn đó là sử dụng Birds Eye View.

Nắm Được Phím Tắt Cho Hand Tool

Tuy rằng không cần chọn Hand Tool để sử dụng Birds Eye View nhưng bạn vẫn cần phải biết phím tắt của nó. Để tìm phím tắt, hãy nhấp và giữ vào biểu tượng của Hand Tool trên Toolbar (nằm ngay trên Zoom Tool). Một menu sẽ hiện ra. Hãy nhớ rằng Hand Tool có phím tắt là phím H:

Phím tắt của Hand Tool là H.

Dù cho công cụ nào đang hoạt động thì bạn đều có thể sử dụng Birds Eye View. Chỉ cần nhấn giữ phím H (phím tắt của Hand Tool) sau đó nhấp giữ vào hình ảnh. PTS ngap lập tức sẽ phóng to khu vực đó sao cho vừa khớp với màn hình, giúp cho bạn có một cái nhìn toàn cảnh về vị trí đó. Thả phím H sau khi nhấn giữ chuột:

Nhấn giữ H sau đó nhấn giữ vào hình ảnh để sử dụng Birds Eye View.

Khung Birds Eye View

Lưu ý khung hình chữ nhật xuất hiện quanh con trỏ chuột của Hand Tool khi sử dụng Birds Eye View. Khung này đại diện cho cửa sổ document của bạn. Nó bao quanh phần hình ảnh vừa với cửa sổ document của bạn ở mức thu phóng hiện tại (mức thu phóng trước khi chuyển sang chế độ Birds Eye View). Ví dụ, hình chữ nhật đang xuất hiện quanh khuôn mặt của người đàn ông. Đây là khu vực đã được phóng to trước đó:

Trong chế độ Birds Eye View, khung chữ nhật đại diện cho cửa sổ document ở mức độ thu phóng hiện tại.

Chọn Khu Vực Khác Để Phóng To

Để phóng to một khu vực khác của hình ảnh, nhấn giữ nút chuột rồi kéo hình chữ nhật qua khu vực mới mà bạn muốn phóng to. Ví dụ mình sẽ kéo khung chữ nhật qua khuôn mặt của người phụ nữ bên phải:

Di chuyển khung chữ nhật sang vị trí khác trong chế độ Birds Eye View.

Phóng To Khu Vực Mới

Chỉ cần thả giữ chuột để phóng to khu vực mới khi sử dụng chế độ Birds Eye View. PTS sẽ ngay lập tức đưa hình ảnh về cùng mức thu phóng mà bạn đang sử dụng trước khi chuyển sang chế độ Birds Eye View. Khu vực mới được bao quanh bằng khung chữ nhật sẽ được phóng to và căn giữa trên màn hình. Trong ví dụ của mình, PTS đã phóng to khuôn mặt của người phụ nữ và căn nó vào giữa. Để điều hướng đến một khu vực khác. Chỉ cần nhấn giữ phím H trên bàn phím, sau đó nhấn giữ nút chuột để chuyển sang chế độ Birds Eye View. Kéo hình chữ nhật đến vị trí mới rồi thả chuột:

Chế độ BIrds Eye View giúp điều hướng từ vị trí này qua vị trí khác một cách dễ dàng mà không cần thay đổi mức độ thu phóng.

 

Hướng Dẫn Sử Dụng Bảng Điều Hướng Trong Photoshop

0

CÁCH SỬ DỤNG BẢNG ĐIỀU HƯỚNG TRONG PHOTOSHOP

Tìm hiểu cách sử dụng bảng điều hướng (Navigator) để thu phóng và xoay hình ảnh. Tại sao nói lại là lựa chọn hoàn hảo để điều hướng xung quanh hình ảnh khi bạn phóng to.

Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu cách sử dụng bảng điều hướng. Ở các bài viết trước mình đã hướng dẫn về cách thu phóng, xoay hình ảnh bằng Zoom Tool và Hand Tool. Cũng như học cách thay đổi mức thu phóng của hình ảnh từ cửa sổ document. Bảng Navigator có phần hơi giống với Zoom Tool và Hand Tool cũng như cửa sổ document. Nó cho phép chúng ta xem toàn bộ hình ảnh và mức độ thu phóng của hình ảnh. Chúng ta có thể phóng to thủ công bất kì phần nào từ bảng Navigator giống như Zoom Tool. Bảng Navigator cho phép chúng ta xoay hình ảnh xung quanh giống Hand Tool.

Tuy nhiên tính năng tốt nhất của bảng Navigator và lý do khiến cho nó trở nên hữu ích là bởi nó cho phép chúng ta dễ dàng theo dõi vị trí của hình ảnh khi phóng to. Bài viết này phù hợp với cả Photoshop CS6 và Photoshop CC.

Mở Bảng Điều Hướng

Như đã tìm hiểu từ trước, PTS sử dụng không gian làm việc để xác định bảng điều khiển nào sẽ hiển thị trên màn hình. Không gian mặc định được gọi là Essentials. Nếu như trước giờ bạn chỉ dùng Essentials thì chắc là chưa bao giờ nghe nói về bảng Navigator (bảng điều hướng). Bởi vì bảng này không được bao gồm trong không gian làm việc Essentials. Cũng có nghĩa là nó không thể tìm thấy trên màn hình (theo mặc định). Tuy nhiên không sao cả, bởi PTS cho phép người dùng mở bất kỳ bảng điều khiển nào, vào bất kỳ lúc nào mà chúng ta cần.

Tất cả các bảng trong PTS đều mở được từ menu Window. Để mở bảng Navigator, hãy đi tới menu Window rồi chọn Navigator. Dấu tích bên cạnh tên bảng điều khiển có nghĩa bảng đó đang hoạt động. Trong ví dụ bên dưới, phía trước Navigator không có dấu tích, vì thế mình sẽ chọn nó để mở:

Mở bảng Navigator.

Các bảng điều khiển trong PTS nằm ở phía bên tay phải giao diện. Theo mặc định PTS sẽ gắn bảng Navigator vào cột phụ (chỉ hiện biểu tượng). Biểu tượng của nó trong giống như tay lái của một con tàu. Bạn có thể mở rộng hoặc thu nhỏ bảng điều khiển bằng cách nhấp vào biểu tượng của nó:

Bảng Navigator nằm trong cột phụ.

Thay Đổi Kích Thước Bảng Navigator

Ở kích thước mặc định, bảng Navigator không hữu ích cho lắm. Nhưng chúng ta có thể mở rộng nó ra. Để thay đổi kích thước bảng điều khiển hãy nhấp vào góc dưới bên trái của nó và kéo nó ra bên ngoài. Bạn có thể làm cho bảng điều khiển lớn hơn tùy thích nhưng nhớ chừa chỗ để hiển thị hình ảnh trong cửa sổ document. Nếu đang làm việc bằng hai màn hình, bạn có thể di chuyển bảng Navigator ssang màn hình thứ hai và thay đổi kích thước của nó để lấp đầy toàn bộ màn hình bên đó. Trong ví dụ dưới đây, mình sẽ mở cho nó đủ lớn để có thể dễ dàng nhìn thấy hình ảnh:

Nhấp và kéo góc dưới bên trái để thay đổi kích thước bảng Navigator.

Khu Vực Xem Trước Và View Box

Tính năng rõ nhất của bảng điều hướng là khu vực xem trước (preview) hình ảnh. Khu vực này hiển thị cho ta xem toàn bộ hình ảnh ngay cả khi đã phóng to. Lát nữa chúng ta sẽ hiểu vì sao điều này lại quan trọng. Lưu ý khu vực xem trước được bao quanh bởi một đường viền mỏng, màu đỏ. Đây được gọi là View Box. Nó đại diện cho phần hình ảnh mà chúng ta nhìn thấy trong cửa sổ document. Trong lần đầu tiên mở hình ảnh, PTS sẽ khớp toàn bộ hình ảnh trên màn hình. Vì thế ta có thể nhìn thấy toàn bộ hình ảnh trong bảng Navigator được bao quanh bởi View Box:

Bảng Navigator hiển thị xem trước với View Box bao quanh hình ảnh.

Xem Mức Thu Phóng Hiện Tại

Giống như chúng ta có thể xem mức thu phóng hiện tại của hình ảnh ở góc dưới bên trái cửa sổ document, ta cũng có thể xem nó ở góc dưới bên trái của bảng Navigator. Trong ví dụ hiển thị hình ảnh trên màn hình đang ở mức thu phóng 33,33%. Chúng ta sẽ quay lại hộp mức thu phóng này sau:

Bảng Navigator hiện mức thu phóng hiện tại của hình ảnh.

Thay Đổi Mức Thu Phóng Với Thanh Trượt

Hãy xem điều gì xảy ra với View Box trong khu vực xem trước khi chúng ta thay đổi mức độ thu phóng của hình ảnh. Một cách để thay đổi mức độ thu phóng của hình ảnh từ bảng Navigator chính là sử dụng thanh trượt. Nó nằm dọc theo cuối bảng. Kéo thanh trượt sang phải để phóng to hoặc sang trái để thu nhỏ:

Thanh trượt thay đổi mức độ thu phóng trong bảng điều hướng.

Ở đây, mình đang phóng to hình ảnh bằng cách kéo thanh trượt sang phải. Có thể thấy rằng mình đã phóng to hình ảnh trong cửa sổ document. Lưu ý khu vực xem trước trong bảng Navigator vẫn hiển thị toàn bộ hình ảnh:

Kéo thanh trượt trong bảng Navigator để thay đổi mức độ thu phóng hình ảnh trong cửa sổ document.

Nhìn Cận Cảnh Hơn Trong View Box

Trong bảng Navigator, khu vực xem trước luôn hiển thị toàn bộ hình ảnh bất kể hình ảnh đang ở mức độ thu phóng nào. View Box lại khác. Nó khoanh vùng cho ta thấy phần nào của hình ảnh đang hiển thị trên màn hình. Khi hình ảnh hiển thị toàn bộ trên màn hình, View Box sẽ bao quanh hình ảnh. Nhưng sau khi phóng to hình ảnh thì View Box đã thay đổi kích thước. Nó sẽ chỉ bao quanh phần hình ảnh đang hiển thị trên màn hình ở mức độ thu phóng hiện tại. Mọi thứ nằm ngoài View Box hiện không hiển thị trên màn hình:

View Box cho ta biết phần hình ảnh nào đang hiển thị trên màn hình khi hình ảnh đang được phóng to.

Xoay Hình Ảnh Bằng View Box

View Box giúp cho chúng ta dễ dàng biết được phần nào của hình ảnh đang hiển thị trên màn hình khi đang ở chế độ phóng to. Tuy nhiên nó còn làm được nhiều hơn thế nữa. Chúng ta có thể sử dụng nó để thay đổi phần hình ảnh hiển thị trên màn hình. Để xoay hay di chuyển đến vị trí khác của hình ảnh. Khi View Box nằm ở vị trí mới thì hình ảnh hiển thị trên màn hình cũng thay đổi sang vị trí đó. Mình sẽ kéo hộp sang bên phải, tránh khỏi ngọn hải đăng, để con tàu phía xa xa bên phải nằm trong View Box:

Kéo View Box đến vị trí khác.

Sau khi di chuyển View Box, con tàu hiện đã hiển thị trong cửa sổ document trong khi ngọn hải đăng đã biến mất:

Khu vực mới trong View Box hiển thị trên màn hình.

Nút Zoom In Và Zoom Out

Vừa rồi chúng ta đã tìm hiểu cách thu phóng hình ảnh bằng thanh trượt trong bảng Navigator. Một cách khác để làm điều này đó là sử dụng các nút Zoom In và Zoom Out nho nhỏ ở hai bên đầu thanh trượt. Nhấp Zoom In (biểu tượng núi to) ở bên phải để phóng to, nhấp Zoom Out (biểu tượng núi nhỏ) ở bên trái để thu nhỏ. Nhấp nhiều lần vào cùng một nút sẽ phóng to hoặc thủ nhỏ nhiều lần theo mức độ tăng dần. Một lần nữa, View Box lại thay đổi kích thước để hiển thị khu vực đang hiển thị trên màn hình. Bạn có thể nhấp và kéo View Box để kiểm tra các vùng khác nhau của hình ảnh ở mức độ thu phóng mới:

Nút Zoom In (bên phải) và Zoom Out (bên trái) ở hai bên của thanh trượt.

Thay Đổi Mức Thu Phóng Từ Hộp Mức Độ Thu Phóng Hiện Tại

Lúc trước mình đã đề cập đến việc có thể xem mức độ thu phóng của hình ảnh ở góc dưới bên trái của bảng Navigator. Chúng ta có thể thay đổi mức độ thu phóng ngay tại đây. Nhấp vào bên trong hộp hiển thị để đánh dấu giá trị hiển tại, nhập giá trị mới rồi ấn Enter (Windows) / Return (Macbook) trên bàn phím để chấp nhận giá trị mới. Nếu nhấn phím Shift cùng lúc nhấn Enter (Windows) / Return (Macbook) thì PTS sẽ đánh dấu giá trị mới này. Điều này giúp cho người dùng nhanh chóng nhập một giá trị thu phóng khác mà không cần nhấp vào bên trong hộp để đánh dấu lại. PTS sẽ tự động thêm biểu tượng % nên hoàn toàn có thể bỏ qua kí tự này:

Thay đổi mức độ thu phóng bằng cách sử dụng hộp ở góc dưới bên trái.

Thay Đổi mức Độ Thu Phóng Với Thanh Trượt Scrubby

Hãy sử dụng thanh trượt Scrubby để kiểm soát tốt hơn mức độ thu phóng trong bảng Navigator. Di con trỏ chuột qua mức độ thu phóng hiện tại ở góc dưới bên trái. Nhấn giữ phím Ctrl (Windows) / Command (Macbook). Con trở chuột sẽ đổi thành biểu tượng bàn tay với mũi tên chỉ sang hướng trái phải. Đây là biểu tượng thanh trượt Scrubby của PTS. Nhấn giữ nút chuột sau đó kéo sang trái hoặc phải với mức độ thu phóng với gia số 1%. Kéo sang phải để tăng mức độ phóng to, kéo sang trái để tăng mức độ thu nhỏ. Nếu vẫn nhấn giữ phím Shift khi kéo (trong khi vẫn nhấn giữ Ctrl (Windows) / Command (Macbook) thì mức độ thu phóng sẽ theo gia số 10%:

Thay đổi mức độ thu phóng bằng thanh trượt Scrubby.

Chọn Khu Vực Để Phóng To Bằng Cách Thủ Công

Cách nhanh và dễ nhất để phóng to một phần hình ảnh bằng bảng Navigator là kéo vùng chọn xung quanh khu vực bạn cần. Di chuột qua khu vực xem trước, sau đó nhấn giữ Ctrl (Windows) / Command (Macbook). Con trỏ chuột sẽ thay đổi thành hình kính lúp, tương tụ như biểu tượng của Zoom Tool. Khi nhấn giữ Ctrl (Windows) / Command (Macbook), hãy nhấp và kéo View Box tới khu vực muốn phóng to. Dưới đây mình kéo nó tới vị trí của ngọn hải đăng:

Kéo View Box tới khu vực cần phóng to.

Sau khi thả chuột, PTS ngay lập tức phóng to và hiển thị khu vực đó trên màn hình. Ngọn hải đăng của mình giờ đã hiện gần hơn và nằm ở trung tâm cửa sổ document:

PTS phóng to khu vực được chọn.

Thay Đổi Màu Của View Box

Cuối cùng hãy tìm hiểu cách thay đổi màu của View Box. Light Red là màu mặc định của nó, nhưng tùy thuộc vào hình ảnh có thể màu đỏ này sẽ không dễ nhìn thấy. Để thay đổi màu sắc, nhấp vào biểu tượng menu ở góc trên phía bên phải bảng Navigator:

Nhấn vào biểu tượng menu của bảng Navigator.

Chọn Panel Options:

Mở tùy chọn Panel Options.

Trong hộp thoại Panel Options, bấm vào màu Light Red (mặc định) rồi chọn một màu khác cho View Box từ danh sách màu có sẵn. Hoặc nhấp vào Custom phía trên cùng để mở Color Picker (bộ chọn màu) rồi chọn bất kì màu nào bạn thích. Bấm OK khi lựa chọn được màu ưng ý và đóng hộp thoại lại:

Chọn màu khác dễ nhìn hơn cho View Box.

 

Tìm Hiểu Về Pixel, Kích Thước Và Chất Lượng Hình Ảnh Trong Photoshop

0

PIXELS, KÍCH THƯỚC HÌNH ẢNH VÀ CHẤT LƯỢNG HÌNH ẢNH TRONG PTS

Hãy cùng tìm hiểu về pixel, image size và image solution để có kết quả tốt nhất khi thay đổi kích thước hình ảnh.

Trong bài viết này mình sẽ hướng dẫn các bạn ba chủ đề cần thiết để làm việc với ảnh kĩ thuật số trong PTS: pixel, image size và image resolution. Hiểu rõ về sự liên quan của ba thứ này và đó là điều cần thiết để có được kết quả tốt nhất khi thay đổi kích thước hình ảnh cho bản in và trang web.

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách tìm hiểu về pixel, các khối xây dựng cơ bản trong tất cả ảnh kĩ thuật số. Sau đó tìm hiểu sự liên quan của pixel tới kích thước hình ảnh. Và cuối cùng kết thúc bằng việc tìm hiểu cách kích thước hình ảnh và độ phân giải hình ảnh hoạt động cùng nhau để kiểm soát kích thước in ảnh. Chúng ta sẽ thấy được rằng độ phân giải không mấy liên quan tới kích thước tệp hình ảnh.

Chúng ta sẽ tìm hiểu về cách thay đổi kích thước hình ảnh ở bài viết sau. Bây giờ hãy bắt đầu bằng việc tìm hiểu về pixel, kích thước hình ảnh và độ phân giải.

Pixel Là Gì?

Pixel là viết tắt của “picture element” (yếu tố hình ảnh) và nó là các khối xây dựng nhỏ tạo nên hình ảnh kĩ thuật số. Giống như một bức tranh được tạo ra từ các nét cọ vẽ, hình ảnh kĩ thuật số được tạo ra từ chính các pixel.

Khi xem một hình ảnh ở mức độ thu phóng bình thường (100% hoặc thấp hơn) trong PTS thì các pixel thường quá nhỏ để có thể nhận thấy. Thay vào đó chúng ta sẽ thấy một hình ảnh với ánh sáng, bóng, màu sắc và kết cấu hòa hợp với nhau tựa như một cảnh trong thế giới thực:

Ảnh kĩ thuật số được mở trong PTS. (Nguồn: Adobe Stock)

Xem Xét Kĩ Hơn Các Pixel

Nhưng tất nhiên những gì chúng ta thấy không hề có thực. Hãy quan sát kĩ hơn. Để xem các pixel riêng lẻ trong hình ảnh, tất cả những gì chúng ta cần làm là phóng to nó lên. Mình sẽ sử dụng Zoom Tool:

Chọn Zoom Tool.

Sau đó thử nhấp vài lần vào một bên mắt của người phụ nữ để thực hiện việc phóng to. Khi đã phóng to đến mức đủ gần, chúng ta sẽ sẽ thấy rằng trong bức ảnh tưởng chừng như là đời thực này thực sự lại là một loạt các hình vuông nhỏ. Những hình vuông này chính là pixel:

Phóng to hình ảnh để thấy các pixel riêng lẻ.

Nếu tiếp tục phóng to hơn nữa, ta sẽ thấy được mỗi pixel hiển thị một màu duy nhất. Toàn bộ hình ảnh chỉ là tập hợp các nhóm với những ô vuông đồng màu. Khi nhìn bức ảnh ở khoảng cách đủ xe, mắt của chúng ta sẽ pha trộn màu sắc để tạo ra một hình ảnh có nhiều chi tiết. Nói cách khác thì các pixel đã tạo nên thế giới kĩ thuật số của chúng ta:

Xem cận cảnh các pixel có thể thấy mỗ pixel hiển thị một màu duy nhất.

Pixel Grid

Lưu ý rằng khi phóng to đủ gần (thường là trên 500%) bạn sẽ bắt đầu nhìn thấy màu xám nhạt xung quanh mỗi pixel. Đây chính là Pixel Grid (lưới pixel) của PTS và nó có tác dụng giúp người dùng dễ dàng xem các pixel riêng lẻ. Nếu như cảm thấy Pixel Grid gây mất tập trung thì hãy tắt nó bằng cách đi tới menu View, chọn Show sau đó chọn Pixel Grid. Để bật lại chỉ cần nhấn lại vào nó lần nữa:

View > Show > Pixel Grid.

Thu Nhỏ Để Xem Hình Ảnh

Để thu nhỏ các pixel và xem toàn bộ hình ảnh, hãy nhấn vào menu View rồi chọn Fit on Screen:

View > Fit on Screen.

Sau khi thu nhỏ hình ảnh lại, các pixel lại một lần nữa trở nên quá nhỏ để có thể nhận ra và chúng ta lại quay lại nhìn thấy ảo ảnh của một bức ảnh chi tiết:

Các pixel hòa trộn với nhau tạo ra hình ảnh.

Kích Thước Ảnh Là Gì?

Kích thước ảnh đề cập chiều cao và chiều rộng của hình ảnh, tính bằng pixel. Nó cũng đề cập đến tổng số pixel trong hình ảnh nhưng nó thực sự là chiều rộng và chiều cao mà chúng ta quan tâm.

Hộp Thoại Image Size

Nơi tốt nhất để tìm thông tin về kích thước hình ảnh chính là hộp thoại Image Size. Hãy đi tới menu Image rồi chọn Image Size:

Image > Image Size.

Hộp thoại Image Size hiển thị vùng xem trước ở bên trái và thông tin chi tiết về kích thước của hình ảnh ở bên phải (mình sẽ nói rõ hơn ở phần tiếp theo). Hiện tại chúng ta chỉ xem xét thông tin cần thiết:

Hộp thoại Image Size.

Kích Thước Pixel

Chiều rộng và chiều cao của một hình ảnh được tính bằng pixel gọi là kích thước pixel của chiều rộng và chiều cao. Trong Photoshop CC chúng ta có thể xem chúng ở phần Dimensions. Nhìn vào ví dụ bên dưới có thể thấy chiều rộng là 4509 pixel (px) và chiều cao là 3000 pixel (px):

Tùy chọn Dimensions mới có trong Photoshop CC.

Nếu các kích thước hiểu thị ở kiểu đo lường khác với pixel (như inch hay % v.v.) thì hãy nhấp vào mũi tên nhỏ cạnh từ “Dimensions” rồi chọn Pixels:

Kích thước có thể hiển thị trong các kiểu đo lường khác nhau.

Điều này cho chúng ta biết rằng trong hình ảnh đang chứa 4509 pixel từ trái sang phải và 3000 pixel từ trên xuống dưới:

Kích thước pixel của hình ảnh.

Tính Tổng Số Pixel

Để tính tổng số pixel trong hình ảnh, chúng ta chỉ cần nhân giá trị chiều rộng và chiều cao với nhau. Ví dụ, 4509 x 3000 = 13.527.000. Vậy là có khoảng 13,5 triệu pixel. Thực ra chúng ta không cần biết tổng số pixel. Nhưng khi bạn có nhiều kinh nghiệm hơn với việc thay đổi kích thước hình ảnh thì bạn sẽ thấy rằng việc biết trước tổng số pixel giúp cho bạn lên ý tưởng tốt hơn cho kích thước in ảnh. Chúng ta sẽ thấy điều này rõ hơn khi tìm hiểu về độ phân giải hình ảnh:

Độ Phân Giải Hình Ảnh Là Gì?

Độ phân giải hình ảnh kiểm soát mức độ lớn hay nhỏ của hình ảnh sẽ in dựa trên kích thước hình ảnh hiện tại của nó.

Điều quan trọng phải hiểu là độ phân giải hình ảnh chỉ ảnh hưởn đến kích thước của bản in hình ảnh. Nó không có tác dụng khi xem trên màn hình. Mình sẽ nói về vấn đề này một cách chi tiết sau:

Sự Liên Quan Giữa Chiều Rộng, Chiều Cao và Độ Phân Giải

Trong hộp thoại Image Size, nằm ngay dưới Dimensions chính là Width (chiều rộng), Height (chiều cao) and Resolution (độ phân giải) của hình ảnh. Đây là nơi chúng ta vừa có thể xem lại vừa có thể thay đổi giá trị của chúng:

Width, Height và Resolution.

Tùy Chọn Resample

Hãy nhìn xuống phía dưới Resolution, bạn sẽ thấy một tùy chọn quan trọng khác có tên là Resample. Nó được bật theo mặc định. Chúng ta sẽ tìm hiểu về Resample khi xem xét cách thay đổi kích thước hình ảnh. Nói ngắn ngọn thì nó có chức năng cho phép chúng ta thay đổi số lượng pixel trong hình ảnh:

Tùy chọn Resample.

Tại sao phải thay đổi số lượng pixel? Nếu kích thước hình ảnh hiện tại quá nhỏ để in ảnh với kích thước bạn cần, hãy sử dụng Resample để thêm nhiều pixel hơn. Hay còn gọi là upsampling. Hoặc nếu muốn gửi ảnh qua email, tải ảnh lên web nhưng kích thước ảnh hiện tại quá lớn thì hãy sử dụng Resample sẽ cho phép bạn giảm số lượng pixel xuống, hay còn gọi là downsampling.

Chúng ta sẽ tìm hiểu tất cả về upsampling và downsampling khi xem xét cách thay đổi kích thước hình ảnh. Để xem độ phân giải ảnh hưởng như nào đến kích thước in của hình ảnh bãy bỏ chọn Resample:

Bỏ chọn Resample.

Thay Đổi Print Size, Không Phải Image Size

Ngay sau khi tắt Resample, kiểu đo lường cho các giá trị Width và Height đã thay đổi. Thay vì tính theo giá trị pixel như trước, giờ đây nó đã được đổi sang inch. Giờ đây giá trị Width và Height đã thay đổi thành 15,03 inches và 10 inch:

Giá trị đo đổi sang đơn vị inches.

Trên thực tễ nếu nhấp vào hộp thoại đo lường cho Width và Height, bạn sẽ nhận thấy rằng Pixel hiện không còn khả dụng. Đó là do khi tắt Resample chúng ta không thể thay đổi số lượng pixel thực trong hình ảnh. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là thay đổi kích thước hình ảnh sẽ in và kích thước in thường được đo bằng inch (hoặc cm tùy thuộc vào vị trí địa lý của bạn):

Tắt Resample sẽ ngăn người dùng thêm hoặc xóa pixel.

Độ Phân Giải Hình Ảnh Hoạt Động Như Thế Nào?

Độ phân giải kiểm soát kích thước in của hình ảnh bằng cách thiết lập số lượng pixel sẽ được ép vào mỗi inch giấy tính theo cả chiều dọc và chiều ngang. Đó là lý do tại sao giá trị độ phân giải được đo bằng pixel/inch hoặc “ppi”. Vì hình ảnh có số lượng pixel hạn chế, mà chúng ta càng cố nhồi nhét nhiều pixel đó với nhau trên giấy thì hình ảnh in ra càng nhỏ.

Ví dụ giá trị độ phân giải của mình hiện đang đặt là 300 pixel/inch. Điều này có nghĩa là khi hình ảnh được in ra, 300 pixel chiều rộng và 300 pixel chiều cao sẽ được ép chặt vào mỗi inch vuông trên giấy. Nghe 300 thì có vẻ không nhiều, nhưng hãy nhớ nó là 300 x 300 = 90.000 pixel trên mỗi inch vuông:

Độ phân giải hiện tại, được đo bằng pixel/inch.

Cách Xác Định Kích Thước In

Để tìm ra kích thước in của hình ảnh, tất cả những gì chúng ta cần làm là lấy chiều rộng và chiều cao hiện tại của nó (tính bằng pixel) chia cho giá trị độ phân giải. Nếu nhìn lại phần Dimensions ở trên cùng, ta sẽ thấy chiều rộng của hình ảnh vẫn là 4509 pixel:

Giá trị Width hiện tại (tính bằng pixel).

Nếu lấy 4509 chia cho giá trị độ phân giải hiện tại là 300, chúng ta sẽ được 15,03. Nói cách khác chiều rộng của hình ảnh khi được in ra sẽ là 15,03 inch, giá trị chính xác được hiển thị trong giá trị Width:

4509 : 300 = 15,03 inch.

Trở lại Dimensions, Height của mình vẫn là 3000 pixel:

Chiều cao hiện tại tính bằng pixel.

Nếu chúng ta chia 3000 cho độ phân giải hiện tại là 300, chúng ta nhận được 10. Có nghĩa là chiều cao của hình ảnh khi được in ra sẽ là 10 inch:

3000 : 300 = 10 inch.

Thay Đổi Độ Phân Giải Sẽ Thay Đổi Kích Thước In

Nếu thay đổi giá trị độ phân giải, số lượng pixel trong hình ảnh không thay đổi, nhưng kích thước in thì có. Lưu ý nếu giảm độ phân giải từ 300 pixel/inch xuống 150 pixel/inch, kích thước pixel vẫn giữ nguyên 4509 x 3000 pixel. Nhưng chiều rộng và chiều cao đều tăng. Vì mình sẽ chỉ ép một nửa số pixel/inch lên giấy, theo cả chiều ngang và chiều dọc, chiều rộng và chiều cao đều tăng gấp đôi:

Giảm độ phân giải sẽ làm tăng kích thước in.

Thay Đổi Kích Thước In Sẽ Thay Đổi Độ Phân Giải

Vì tất cả những gì chúng ta thay đổi là kích thước in, nên việc thay đổi chiều rộng hay chiều cao sẽ thay đổi độ phân giải. Trên thực tế, khi tùy chọn Resample bị tắt, cả ba giá trị (Width, Height và Resolution) đều được liên kết với nhau. Chỉ cần thay đổi một cái sẽ tự động thay đổi những cái khác.

Nếu giảm giá trị Width xuống 10 inch thì để giữ nguyên tỷ lệ khung hình của hình ảnh, PTS sẽ tự động thay đổi giá trị chiều cao thành 6,653 inch. Để phù hợp với toàn bộ hình ảnh và kích thước in (mới, nhỏ hơn) các pixel sẽ cần được liên kết chặt hơn, vì vậy giá trị độ phân giải đã tăng lên 450,9 pixel/inch:

Thay đổi Width và Height sẽ thay đổi cả độ phân giải.

Độ Phân Giải Hình Ảnh Có Ảnh Hưởng Đến Kích Thước Tệp Không?

Một quan niệm sai lầm đó là mọi người vẫn cho rằng độ phân giải hình ảnh ảnh hưởng đến kích thước tệp của hình ảnh. Nhiều người vẫn cho rằng trước khi gửi ảnh qua mail hay tải lên web cần giảm độ phân giải của ảnh xuống để kích thước tệp nhỏ hơn. Nhưng điều này sai hoàn toàn. Việc thay đổi độ phân giải không làm thay đổi lượng pixel trong ảnh, nên nó cũng không ảnh hưởng gì tới kích thước tệp.

Nếu nhìn vào Image Size (kích thước hình ảnh) trên đầu hộp thoại, bạn sẽ thấy một số thường được hiển thị bằng megabyte (M). Trong ví dụ của mình là 38,7 triệu. Con số này đại diện cho kích thước của hình ảnh trong bộ nhớ máy tính. Khi bạn mở một hình ảnh trong PTS, hình ảnh sẽ được sao chép từ ổ cứng, được giải nén từ bất kì định dạng tệp nào mà nó đã được lưu, sau đó được đưa vào bộ nhớ (RAM) để bạn có thể làm việc nhanh hơn. Số hiển thị trong hộp thoại Image Size là kích thước thực tế (không nén) của hình ảnh:

Kích thước hình ảnh (tính theo megabyte) được hiển thị ở trên cùng.

Độ Phân Giải Thấp Hơn So Với Kích Thước Tệp

Độ phân giải hình ảnh không hề ảnh hưởng đến kích thước tệp. Chỉ cần để ý tới kích thước trong khi bạn thay đổi độ phân giải. Miễn là tùy chọn Resample đã tắt để bạn không thay đổi số lượng pixel trong ảnh, thì dù cho bjan có chọn giá trị độ phân giải nào, kích thước tệp ở trên cùng sẽ luôn được giữ nguyên.

Ở ví dụ dưới đây, mình đã hạ độ phân giải từ 300 pixel/inch xuống 30 pixel/inch. Với rất ít pixel được in lên một inch giấy, kích thước in đã tăng lên con số khổng lồ 150,3 inch x 100 inch. Ngay cả với giá trị độ phân giải rất thấp này, kích thước của hình ảnh trong bộ nhớ vẫn giữ ở mức 38,7M:

Giảm độ phân giải in không ảnh hưởng đến kích thước tệp.

Độ Phân Giải Cao Hơn So Với Kích Thước Tệp

Bây giờ mình tăng thử độ phân giải lên tới 3000 pixel/inch. Điều này làm giảm kích thước in xuống còn 1,503 inch x 1 inch, nhưng lại không ảnh hưởng đến kích thước tệp (vẫn giữ nguyên là 38,7M). Cách duy nhất để giảm kích thước tệp của hình ảnh là giảm số lượng pixel trong ảnh (sử dụng tùy chọn Resample) hoặc lưu tệp ở định dạng hỗ trợ nén (JPEG) hoặc cả hai. Chỉ cần thay đổi độ phân giải in sẽ không thay đổi kích thước tệp:

Tăng độ phân giải in không ảnh hưởng đến kích thước tệp.

Vậy làm thế nào để giảm số lượng pixel trong hình ảnh? Cần giá trị độ phân giải nào để có được bản in chất lượng cao? Minh sẽ nói kĩ hơn về vấn đề này trong bài hướng dẫn sau.

Chúng ta đã cùng tìm hiểu nhanh về pixel, Image Size và Image Resolution. Đây là ba chủ đề quan trọng cần phải biết để có kết quả tốt nhất khi thay đổi kích thước hình ảnh trong PTS. Ở bài học tiếp theo chúng ta sẽ cùng xem xét kĩ hơn lệnh Image Size của PTS.

 

Tổng Quan Về Các Công Cụ Và Thanh Công Cụ Trong Photoshop

0
thanh cong cu photoshop

TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ TRONG PHOTOSHOP VÀ THANH CÔNG CỤ

Tìm hiểu về các công cụ của PTS cũng như thanh công cụ (Toolbar). Nói rõ về cách tổ chức thanh công cụ và cách truy cập vào các công cụ ẩn của nó.

Chúng ta đã tìm hiểu chung về giao diện và các tính năng chính. Trong bài này, hãy cùng nhau đi tìm hiểu sâu hơn về tất cả các công cụ của PTS và Toolbar. Toolbar là nơi chứ các công cụ làm việc trong PTS. Có rất nhiều công cụ để thực hiện các lựa chọn, cắt, chỉnh sửa hình ảnh…

Trước tiên hãy bắt đầu xem xét Toolbar, bao gồm cách tổ chức và cách truy cập các công cụ ẩn. Sau đó xem xét tóm tắt nhanh chức năng từng công cụ trong Toolbar.

Mặc dù mình đang sử dụng phiên bản 2021 tuy nhiên nó hoàn toàn phù hợp với những phiên bản trước đó. Lưu ý nhỏ có thể sẽ có một số công cụ không có sẵn trong phiên bản cũ hơn.

Thanh Công Cụ Trong PTS

Thanh công cụ được sắp xếp nằm ở dọc phía bên trái của màn hình:

Thanh công cụ.

Chọn Hiển Thị Thanh Công Cụ Dưới Dạng Cột Đơn Hoặc Cột Đôi

Theo mặc định, thanh công cụ được đặt dưới dạng một cột dài đơn lẻ. Tuy nhiên nó có thể đổi thành cột đôi, giúp rút ngắn chiều dài của thanh công cụ lại bằng cách nhấp vào mũi tên kép ở trên cùng. Nhấp vào một lần nữa để quay lại sử dụng dưới dạng cột đơn:

Thanh công cụ có thể đổi thành dạng cột đơn hoặc cột đôi.

Bố Cục

Hãy nhìn vào cách sắp xếp thanh công cụ của PTS. Mặc dù trông nó có vẻ được liệt kê một cách ngẫu nhiên, nhưng sự thực trình tự đó là một thứ tự hoàn toàn hợp lý với các công cụ có liên quan được nhóm lại với nhau.

Ở trên cùng, chúng ta có công cụ Move (di chuyển) và Selection (lựa chọn). Ngay bên dưới là Crop (cắt) và Slice (cắt layout). Tiếp đến là công cụ đo lường (measurement tools), sau đó là các công cụ phục vụ cho việc chỉnh sửa và vẽ tranh (retouching and paiting) của PTS.

Dưới nữa là công cụ để vẽ và tạo văn bản (drawing and type), và cuối cùng là công cụ điều hướng (navigation):

thanh cong cu photoshop

 

Bố cục của thanh công cụ.

Công Cụ Ẩn Trong Thanh Công Cụ

Mỗi công cụ nằm trong thanh công cụ đều được thể hiện bằng một biểu tượng và tất nhiên còn nhiều công cụ hơn so với những gì ta nhìn thấy.

Một mũi tên nhỏ ở góc dưới cùng bên phải của biểu tượng công cụ biểu thị rằng có nhiều công cụ cùng được nhóm vào cùng vị trí này:

Hầu hết các biểu tượng trên thanh công cụ chứa nhiều hơn một công cụ.

Để xem các công cụ bổ sung hãy nhấp và giữ vào biểu tượng. Hoặc có thể nhấp chuột phải (windows) hay ấn control khi nhấp chuột (Macbook) vào biểu tượng. Một menu sẽ mở ra liệt kê các công cụ có sẵn khác.

Ví dụ, nếu mình nhấp và giữ biểu tượng Rectangular Marquee, menu hiện ra cho biết cùng được nhóm vào với nó còn có Elliptical Marquee, Single Row Marquee và Single Column Marquee.

Nhấp vào tên của công cụ bổ sung để lựa chọn. Mình sẽ chọn Elliptical Marquee:

Chọn công cụ ẩn.

Công Cụ Mặc Định

Công cụ ban đầu hiển thị trên Toolbar là công cụ mặc định. Ví dụ, Rectangular Marquee được mặc định xếp tại vị trí thứ hai từ trên xuống. Nhưng không phải lúc nào PTS cũng hiển thị công cụ mặc định, thay vào đó nó sẽ hiển thị công cụ được chọn gần nhất.

Lưu ý sau khi chọn công cụ Elliptical Marquee từ menu công cụ ẩn thì công cụ Rectangular Marquee sẽ không xuất hiện trên Toolbar nữa, thay vào đó sẽ là Elliptical Marquee:

Mỗi vị trí trên Toolbar hiển thị công cụ mặc định hoặc công cụ lựa chọn gần nhất.

Bây giờ để chọn Rectangular Marquee bạn cần nhấn giữ chuột phải (Window) hoặc Ctrl rồi nhấp chuột (Macbook) vào biểu tượng Elliptical Marquee. Sau đó chọn Rectangular Marquee từ menu công cụ ẩn:

Chọn Rectangular Marquee Tool từ menu công cụ ẩn sau Rectangular Marquee.

Tóm Tắt Các Công Cụ Của PTS

Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về cách sắp xếp thanh công cụ của PTS.

Phía dưới chính là tóm tắt nhanh về từng công cụ, cùng với đoạn mô tả ngắn gọn về chức năng của nó. Tất cả được liệt kê theo thứ tự từ trên xuống dưới. Ở đây mình sẽ chỉ nói sơ qua và sau này mình sẽ nói cụ thể hơn trong một bài viết khác.

Dấu hoa thị “*’’ sau tên mỗi công cụ cho biết đó là công cụ mặc định, chứ cái trong ngoặc đơn là phím tắt dành cho công cụ đó. Để chuyển qua các công cụ có cùng phím tắt, chỉ cần nhấn giữ phím Shift khi nhấn phím tắt. Bản danh sách dưới đây được cập nhật theo Photoshop CC 2021 cho nên có thể sẽ có một số công cụ không có sẵn trong các phiên bản trước đó.

Công Cụ Di Chuyển Và Lựa Chọn

Move * (V)

Công cụ này dùng để di chuyển các layer, vùng được chọn và hướng dẫn trong document. Bật “Auto-Select” để tự động chọn layer hay nhóm mà bạn nhấp vào.

Artboard Tool ( V )

Công cụ này cho phép bạn dễ dàng thiết kế nhiều bố cục web hay UX (trải nghiệm người dùng) cho các thiết bị hay kích thước màn hình khác nhau.

Rectangular Marquee * ( M )

Công cụ này giúp vẽ các đường viền vùng được chọn theo hình chữ nhật. Nhấn giữ Shift khi bạn kéo để vẽ vùng muốn chọn theo hình vuông.

Elliptical Marquee Tool ( M )

Công cụ này giúp vẽ các đường viền vùng được chọn theo hình tròn. Nhấn giữ Shift khi bạn kéo để vẽ vùng muốn chọn theo hình tròn.

Single Row Marquee

Công cụ này chọn một hàng ngang pixel trong ảnh từ trái qua phải.

Single Column Marquee

Công cụ này chọn một hàng dọc pixel trong ảnh từ trên xuống dưới.

Lasso * ( L )

Công cụ này dùng để vẽ đường viền một cách tùy ý xung quanh một đối tượng.

Polygonal Lasso ( L )

Nhấp vào xung quanh một đối tượng bằng công cụ này để bao quanh đối tượng đó bằng một đường viền lựa chọn có dạng đa giác, có cạnh thẳng.

Magnetic Lasso ( L )

Công cụ này gắn đường viền vùng được chọn vào các cạnh của đối tượng khi bạn di chuyển con chuột xung quanh nó.

Object Selection * ( W )

Công cụ này cho phép bạn lựa chọn đối tượng bằng cách kéo đường viền lựa chọn xung quanh nó.

Quick Selection ( W )

Cộng cụ này giúp bạn dễ dàng chọn đối tượng bằng cách dùng cọ vẽ lên nó. Bật “Auto-Enhance” trong thanh tùy chọn để có các lựa chọn tốt hơn.

Magic Wand ( W )

Công cụ này dùng để chọn các vùng có màu giống nhau chỉ trong một cú nhấp chuột. Giá trị “Tolerance” trong thanh tùy chọn sẽ giúp đặt phạm vi màu muốn chọn.

Công Cụ Cắt

Crop * ( C )

Công cụ này dùng để cắt hình ảnh hoặc loại bỏ những phần không mong muốn. Bỏ chọn “Delete Cropped Pixels” trên thanh tùy chọn để cắt ảnh nhưng không làm hỏng ảnh gốc.

Perspective Crop ( C )

Công cụ này vừa dùng để cắt ảnh, vừa có tác dụng khắc phục các sự cố biến dạng hay phối cảnh thường gặp.

Slice ( C )

Công cụ này sẽ chia hình ảnh hoặc bố cục thành các phần nhỏ hơn (lát cắt) có thể được xuất và tối ưu hóa riêng biệt.

Slice Select ( C )

Sử dụng công cụ này để chọn các lát cắt riêng lẻ được tạo ra bởi công cụ Slice.

Frame * ( K )

Công cụ này cho phép bạn đặt hình ảnh thành hình chữ nhật hoặc elip, tính năng mới của Photoshop CC 2019.

Công Cụ Đo Lường

Eyedropper * ( I )

Công cụ này lấy mẫu màu sắc bạn chọn. Sử dụng “Sample Size” trong thanh tùy chọn để thể hiện tốt hơn màu của khu vực được lấy mẫu.

3D Material Eyedropper ( I )

Sử dụng công cụ này để lấy mẫu từ mô hình 3D trong PTS.

Color Sampler ( I )

Công cụ này giúp hiển thị các giá trị màu cho vùng đã chọn lấy mẫu. Có thể lấy tối đa bốn khu vực cùng một lúc. Xem thông tin màu trong bảng thông tin của PTS.

Ruler ( I )

Dùng để đo khoảng cách, vị trí và góc. Nó hoàn toàn tuyệt vời cho việc định vị hình ảnh các yếu tốc chính xác tại nơi bạn cần sử dụng.

Note ( I )

Công cụ này cho phép bạn đính kèm các ghi chú vào tài liệu PTS để nhắc nhở bản thân hay ai đó cùng hợp tác một vấn đề gì đó. Ghi chú được lưu dưới dạng một phần của tệp .PSD.

Count Tool ( I )

Sử dụng công cụ này để đếm thử công số lượng đối tượng trong ảnh, hoặc để PTS tự động đếm những vùng được chọn trong ảnh.

Công Cụ Chỉnh Sửa Và Vẽ

Spot Healing Brush Tool * ( J )

Công cụ này giúp loại bỏ các nhược điểm hay vấn đề có kích thước nhỏ trong ảnh. Lưu ý sử dụng kích thước brush lớn hơn một chút so với chỗ cần xử lý để đạt được kết quả tốt nhất.

Healing Brush Tool ( J )

Công cụ này giúp chỉnh sửa khu vực có vấn đề với kích thước lớn hơn bằng cách tô lên khu vực cần xử lý. Nhấn phím Alt (Window) hoặc Option (Macbook) để chọn mẫu thay thế phù hợp rồi sau đó tô lên khu vực cần sửa lại.

Patch Tool ( J )

Công cụ này giúp vẽ một đường viền với hình dạng tùy ý xung quanh khu vực có vấn đề. Sau đó kéo phần đã được lựa chọn để chỉnh sửa. ra khu vực có mẫu hình ảnh đẹp phù hợp.

Content-Aware Move Tool ( J )

Công cụ này có chức năng lựa chọn và di chuyển phần hình ảnh được chọn ra một vị trí khác. PTS sẽ sử dụng các yếu tố từ các khu vực xung quanh phần được chuyển đi để tự động lấp đầy vị trí bị hổng.

Red Eye Tool ( J )

Công cụ này khắc phục tình trạng mắt đỏ do chụp đèn flash.

Brush Tool * ( B )

Đây là công cụ vẽ chính của PTS. Nó dùng để vẽ các nét cọ lên layer hay layer mask.

Pencil Tool ( B )

Pencil Tool cũng là một công cụ vẽ khác của PTS, nhưng thay vì vẽ các nét cọ mềm như Brush Tool thì nó vẽ nét mảnh và cứng.

Color Replacement Tool ( B )

Công cụ này giúp thay thế màu được chọn bằng một màu khác.

Mixer Brush Tool ( B )

Khác với Brush Tool, Mixer Brush Tool có thể mô phỏng theo các yếu tố của bức tranh như pha trộn và kết hợp màu sắc, độ ẩm của sơn.

Clone Stamp Tool * ( S )

Công cụ này lấy mẫu pixel từ một vùng hình ảnh, sau đó chèn chúng lên vùng hình ảnh khác.

Pattern Stamp Tool ( S )

Công cụ này dùng để vẽ hình với nét mẫu tự chọn lên ảnh.

History Brush Tool * ( Y )

Công cụ này giúp vẽ lại chi tiết trước đó (trong trạng thái lịch sử) vào trong ảnh.

Art History Brush Tool ( Y )

Công cụ này vẽ lại chi tiết trước đó vào ảnh nhưng sử dụng các nét cọ cách điệu hơn.

Eraser Tool * ( E )

Công cụ này dùng để xóa những vùng mà nó đi qua trên 1 layer.

Background Eraser Tool ( E )

Công cụ này xóa màu, nền những vùng mà nó đi qua.

Magic Eraser Tool ( E )

Tượng tự như Magic Wand Tool, công cụ này chọn các vùng có màu tương tự chỉ bằng một cú nhấp chuột. Tuy nhiên Magic Eraser Tool sẽ xóa những khu vực đó vĩnh viễn.

Gradient Tool * ( G )

Công cụ này tô trộn màu sắc theo nguyên tắc hòa trộn các dải màu đơn sắc. Gradient Editor cho phép người dùng tạo và tùy chỉnh các gradients của riêng mình.

Paint Bucket Tool ( G )

Công cụ này đổ màu vào một vùng có màu tương tự với màu nền trước đó (Foreground). Giá trị “Tolerance” xác định phạm vi màu sẽ bị ảnh hưởng xung quanh khu vực bạn chọn.

3D Material Drop Tool ( G )

Được sử dụng trong mô hình 3D, công cụ này cho phép lấy mẫu từ một vùng rồi sau đó thả nó vào một vùng khác của mô hình, lưới hoặc lớp 3D.

Blur Tool *

Công cụ này làm mờ và mềm các khu vực bạn tô.

Sharpen Tool

Công cụ này làm sắc nét khu vực bạn tô.

Smudge Tool

Công cụ này làm nhòe, lem các vùng bạn tô. Nó cũng được sử dụng để tạo hiệu ứng vẽ ngón tay.

Dodge Tool * ( O )

Dùng Dodge Tool tô lên các khu vực trên ảnh để làm sáng chúng.

Burn Tool ( O )

Công cụ này sẽ khiến các vùng bạn tô trở nên sậm màu hơn.

Sponge Tool ( O )

Công cụ này giúp tăng giảm độ bão hòa màu những khu vực mà người dùng tô lên.

Công Cụ Vẽ Và Viết

Pen Tool * ( P )

Công cụ này cho phép bạn vẽ các đường dẫn, hình dạng vector hoặc chọn vùng cực kỳ chính xác.

Freeform Pen Tool ( P )

Công cụ này giúp vẽ các đường dẫn hoặc các hình thủ công. Các điểm neo được tự động thêm vào khi vẽ.

Curvature Pen Tool ( P )

Đây là phiên bản đơn giản hơn của Pen Tool.

Add Anchor Point Tool

Dùng công cụ này để thêm các điểm neo bổ sung vào dọc theo các đường dẫn.

Delete Anchor Point Tool

Dùng công cụ này nhấp vào một điểm neo để loại bỏ nó trên đường dẫn.

Convert Point Tool

Dùng công cụ này nhấp vào một điểm neo để chuyển nó thành một điểm góc, hoặc nhấp vào một điểm góc để chuyển nó thành một điểm mịn.

Horizontal Type Tool * ( T )

Công cụ này giúp nhập văn bản vào hình ảnh trong PTS.

Vertical Type Tool ( T )

Công cụ này cũng để nhập văn bản nhưng theo kiểu dọc.

Vertical Type Mask Tool ( T )

Công cụ này để nhập văn bản kiểu dọc, nhưng chữ hiển thị theo kiểu đường viền lựa chọn.

Horizontal Type Mask Tool ( T )

Công cụ này để nhập văn bản kiểu ngang, chữ hiển thị theo kiểu đường viền lựa chọn.

Path Selection Tool * ( A )

Sử dụng công cụ này để chọn và di chuyển toàn bộ đường dẫn cùng lúc.

Direct Selection Tool ( A )

Sử dụng công cụ này để chọn và di chuyển một đoạn đường dẫn riêng lẻ, điểm neo hoặc chốt điều hướng.

Rectangle Tool * ( U )

Công cụ này giúp vẽ các hình dạng vector chữ nhật, đường dẫn hoặc hình dạng pixel. Nhấn giữ phím Shift ki kéo để ép hình dạng thành một hình vuông hoàn hảo.

Rounded Rectangle Tool ( U )

Tương tự công cụ Rectangle Tool nhưng là để vẽ các hình dạng với các góc tròn. Nhấn giữ Shift để vẽ hình vuông với các góc được bo tròn.

Ellipse Tool ( U )

Công cụ này dùng để vẽ các hình dạng vecto elip, đường dẫn hoặc hình dạng pixel. Nhấn giữ Shift khi kéo để vẽ một vòng tròn hoàn hảo.

Triangle Tool ( U )

Công cụ này dùng để vẽ các hình tam giác, nhấn giữ Shift để vẽ một tam giác đều hoặc sử dụng tùy chọn Radius để bo tròn các góc.

Polygon Tool ( U )

Công cụ này để vẽ hình đa giác với số cạnh tùy ý. Sử dụng Star Ratio dể biến đa giác thành sao.

Line Tool ( U )

Sử dụng để vẽ các đường thẳng hoặc mũi tên, dùng màu và độ đậm cả Stroke để kiểm soát sự xuất hiện của đường kẻ.

Custom Shape Tool ( U )

Công cụ này cho phép chọn và vẽ hình dạng tùy chỉnh. Có thể chọn các hình dạng tùy chỉnh có sẵn của PTS hoặc tự tạo riêng.

Công Cụ Điều Hướng

Hand Tool * ( H )

Công cụ này cho phép ta nhấp và kéo một hình ảnh xung quanh màn hình để xem các khu vực khác nhau khi phóng to.

Rotate View Tool ( R )

Sử dụng công cụ này để xoay, giúp bạn có thể xem và chỉnh sửa hình ảnh từ các góc độ khác nhau.

Zoom Tool * ( Z )

Nhấp vào hình ảnh bằng công cụ này để phóng to khu vực cụ thể. Nhấn giữ Alt (Windows) hoặc Option (Mac) rồi nhấp công cụ này để thu nhỏ.

 

Hướng Dẫn Sử Dụng Screen Modes và Thủ Thuật Giao Diện Trong Photoshop

0

SCREEN MODES PHOTOSHOP VÀ THỦ THUẬT GIAO DIỆN

Tìm hiểu về Screen Modes trong PTS (bao gồm 3 chế độ: Standard, Full Screen With Menu Bar và Full Screen) và cách sử dụng chúng để tối đa hóa khu vực làm việc bằng cách ẩn giao diện, cách chuyển đổi giữa chúng cũng như một số thủ thuật bàn phím tiện ích.

Làm việc với PTS luôn có một điều gây khó chịu đó là nó có quá nhiều bảng điều khiển, công cụ, menu và tùy chọn có sẵn. Tất cả những thứ này có thể tạo nên sự lộn xộn trên màn hình. Giao diện càng chiếm nhiều chỗ thì chúng ta lại càng có ít không gian để hiển thị hình ảnh. Khi mà công nghệ ngày càng phát triển thì hình ảnh sẽ ngày càng lớn hơn. Điều này làm khiến cho việc tìm cách thu nhỏ giao diện và tối đa hóa không gian làm việc trở nên vô cùng quan trọng. Tất nhiên đối với những người dùng màn hình kép để làm việc thì nó không phải là trở ngại, bởi bạn có thể chuyển bảng điều khiển sang một màn hình còn xem và chỉnh sửa hình ảnh lại trên một màn hình khác. Nhưng thực tế không phải ai cũng sử dụng màn hình kéo, do đó chúng ta cần tìm một giải pháp thực tế (và ít tốn kém) hơn.

Rất may là Screen Modes của PTS có thể dễ dàng khắc phục vấn đề này. Screen Mode (Chế độ Màn hình) kiểm soát lượng giao diện trên màn hình của bạn và nó có ba chế độ cho bạn lựa chọn. Standard Screen Mode hiển thị toàn bộ giao diện. Đây là chế độ mặc định của PTS và cũng là chế độ chiếm nhiều chỗ nhất. Bên cạnh đó còn có chế độ Full Screen Mode With Menu Bar sẽ ẩn một số mục (không ẩn toàn bộ). Cuối cùng là Full Screen Mode là chế độ sẽ ẩn hoàn toàn giao diện và cho phép hình ảnh chiếm trọn màn hình.

Trong hướng dẫn này, chúng ta sẽ xem xét từng chế độ và tìm hiểu cách chuyển đổi giữa chúng. Chúng ta cũng sẽ tìm hiểu một số thủ thuật bàn phím tiện dụng để có thể tận dụng tối đa tính năng tuyệt vời này. Mình vẫn sử dụng Photoshop CC trong bài hướng dẫn này, tuy nhiên nó hoàn toàn phù hợp với Photoshop CS6. Đây cũng là bài cuối cùng trong loạt bài về Giao Diện Photoshop của mình. Cùng bắt đầu nhé!

Screen Modes Nằm Ở Đâu?

Ta có thể tìm thấy Screen Modes ở hai nơi trong PTS. Một là ở trong thanh Menu chạy phía trên đầu màn hình. Hãy đi tới menu View, chọn Screen Mode. Ở đây bạn có thể chuyển đổi giữa ba chế độ màn hình. Dấu tích bên cạnh Standard Screen Mode cho biết nó hiện đang hoạt động. Chúng ta sẽ tìm hiểu từng chế độ sau, bây giờ hãy giữ nguyên chế độ tiêu chuẩn mặc định này:

Xem Screen Modes từ menu View.

Một nơi khác nữa để tìm Screen Modes chính là ở Toolbar nằm phía bên trái màn hình. Biểu tượng Screen Modes là biểu tượng cuối cùng ở phía dưới. Nhấn giữ biểu tượng này sẽ hiện ra một menu bao gồm ba chế độ màn hình. Hình vuông nhỏ cạnh Standard Screen Mode cho biết nó là chế độ hiện đang hoạt động. Tất nhiên chúng ta vẫn giữ nguyên ở chế độ này mà không cần thực hiện thay đổi gì:

Screen Modes nằm ở phía dưới cùng của Toolbar.

Standard Screen Mode (Chế Độ Màn Hình Tiêu Chuẩn)

Hãy cùng bắt đầu với Standard Screen Mode. Đây là hình ảnh mình đang mở trong PTS (người phụ nữ đeo mặt nạ):

Standard Screen Mode trong PTS.

Theo mặc định, PTS luôn sử dụng Standard Screen Mode. Nó cho phép hiển thị toàn bộ giao diện PTS, bao gồm: Toolbar, các bảng Điều khiển, thanh Menu và thanh Tùy chọn, tab phía trên cửa sổ document, thanh cuộn dọc bên phải và đưới cùng, thanh trạng thái (Status Bar) ớ phía dưới bên trái của cửa sổ document. Standard Screen Mod cho phép truy cập nhanh vào mọi thứ tuy nhiên nó cũng là chế độ chiếm nhiều không gian màn hình nhất.

Screen Modes Và View Modes

Có thể giao diện không cản trở tới việc bản thân người dùng nhìn hình ảnh, nhưng đó là vì chúng ta đang xem hình ảnh với chế độ vừa khớp với màn hình. Khác với Screen Modes, View Modes (Chế độ xem) kiểm soát mức độ thu phóng của document. Bạn có thể xem hình ảnh ở chế độ này bằng cách đi tới menu View chọn Fit on Screen:

Full Screen Mode With Menu Bar

Trong chế độ Fit on Screen, PTS đặt mức độ thu phóng tùy ý sao cho hình ảnh nằm hoàn toàn trong khu vực có thể nhìn thấy của cửa sổ document. Hãy thử xem điều gì sẽ xảy ra nếu chọn một Chế độ xem khác. Mình sẽ quay lại menu View và chọn 100%:

Đổi sang 100%.

Chế độ này ngay lập tức nâng mức thu phóng lên 100%, tức là mỗi pixel trong ảnh chiếm đúng 1 pixel trên màn hình. Điều này cho phép chúng ta xem hình ảnh một cách chi tiết. Tuy nhiên nó cũng khiến cho ảnh hiện ra quá lớn. Đây chính là lúc giao diện bị cản trở. Các cột bảng điều khiển phía bên phải chính là vấn đề, vấn đề thậm chí còn tồi tệ hơn nếu màn hình người dùng có độ phân giải thấp:

Phóng to hình ảnh khiến cho giao diện trở nên lộn xộn hơn.

Full Screen Mode With Menu Bar

Nếu muốn có thêm chút không gian, bạn có thể chuyển sang Full Screen Mode With Menu Bar. Để chọn chế độ này, đi tới menu View, chọn Screen Mode rồi chọn Full Screen Mode With Menu Bar. Hoặc nhanh hơn ta có thể dùng cách nhấp giữ vào biểu tượng Screen Mode ở phía cuối Toolbar sau đó chọn Full Screen Mode With Menu Bar:

Chọn “Full Screen Mode With Menu Bar” trên Toolbar.

Full Screen Mode With Menu Bar là chế độ sẽ ẩn những phần giao diện liên quan tới cửa sổ document, bao gồm: tab trên cùng, các thanh cuộn dọc bên phải và dưới cùng của hình ảnh, Status Bar ở phía dưới bên trái cửa sổ document. Đồng thời nó cũng ẩn các nút thu nhỏ, phóng to và đóng PTS nằm ở phía trên bên trái giao diện. Ngoài ra, nếu có hai hay nhiều hình ảnh được mở trong các tab document riêng biệt thì chỉ có một ảnh đang hoạt động hiển thị trên màn hình. Tất cả các thành phần giao diện khác (Toolbar, bảng điều khiển, Menu Bar và Options Bar) vẫn còn nguyên trên màn hình:

Full Screen Mode With Menu Bar ẩn những phần liên quan tới cửa sổ document.

Full Screen Mode (Chế Độ Toàn Màn Hình)

Để tối đa hóa khu vực làm việc, hãy chuyển sang chế độ Full Screen Mode. Bạn có thể chọn chế độ này bằng cách đi tới View trên thanh Menu, chọn Screen Mode rồi chọn Full Screen Mode. Hoặc nhấp giữ vào biểu tượng Screen Mode ở cuối Toolbar và chọn Full Screen Mode:

Chọn “Full Screen Mode” từ Toolbar.

Nếu như đây là lần đầu tiên bạn chọn chế độ này, PTS sẽ mở một hộp thoại giải thích những điều cơ bản về cách hoạt động của nó. Để mình nói rõ hơn nhé. Nếu bạn không muốn thấy thông báo này mỗi khi chuyển sang chế độ Full Screen Mode hãy tích vào phần Don’t show again, sau đó nhấp vào nút Full Screen:

PTS giải thích về cách hoạt động của Full Screen Mode trước khi chuyển sang chế độ này.

Ở chế độ toàn màn hình như này, PTS sẽ ẩn toàn bộ giao diện và chỉ để lại hình ảnh hiển thị trên màn hình:

PTS đang trong chế độ Full Screen Mode, ẩn toàn bộ giao diện.

Truy Cập Giao Diện

Chắc chắn bạn sẽ nghĩ là: “Ủa? Ẩn hết giao diện rồi giờ dùng sao?”. Có thể bạn cũng sẽ nghĩ đến các phím tắt, nhưng thực ra không cần phải nhớ đến mức ấy. Có một cách dễ dàng để khôi phục giao diện khi cần dùng đến.

Hiển Thị Toolbar

Để tạm thời hiển thị Toolbar, phục vụ cho việc lựa chọn các công cụ, trong chế độ toàn màn hình, chỉ cần di chuột dọc theo cạnh trái của màn hình. Sau khi chọn xong công cụ hãy di chuột ra khỏi khu vực đó và Toolbar sẽ lại biến mất:

Di chuột sang dọc phía bên trái để hiển thị Toolbar khi ở chế độ Full Screen Mode.

Hiển Thị Bảng Điều Khiển

Để hiển thị tạm thời bảng điều khiển, hãy di chuột tới bất kì vị trí nào dọc theo cạnh phải của màn hình. Sau khi đã hoàn thành chỉnh sửa bằng bảng điều khiển, hãy kéo chuột ra khỏi khu vực đó để ẩn đi bảng điều khiển:

Di chuột sang cạnh bên phải dọc màn hình đẻ hiển thị bảng điều khiển.

Thoát Khỏi Chế Độ Toàn Màn Hình

Vì giao diện đã bị ẩn hoàn toàn cho nên để thoát khỏi chế độ này, chỉ cần nhấn phím Esc. Thao tác này sẽ đưa bạn trở lại với chế độ mặc định (Standard Screen Mode).

Hiển Thị Và Ẩn Giao Diện Bằng Bàn Phím

Ngoài ra người dùng còn có thể ẩn hiện giao diện bằng cách sử dụng bàn phím. Các phím tắt luôn hoạt động dù ở chế độ nào. Chỉ cần sử dụng phím Tab để hiển thị Toolbar, Option Bar và các bảng điều khiển:

Sử dụng phím Tab để hiển thị Toolbar, Option Bar, bảng điều khiển.

Để hiển thị và ẩn các bảng điều khiển phía bên phải, hãy nhấn Shift+Tab (thao tác này dùng được cho cả ba chế độ màn hình):

Nhấn Shift+Tab để ẩn/hiện các bảng điều khiển phía bên phải.

Cách Nhanh Nhất Để Chuyển Chế Độ Màn Hình

Chúng ta đã tìm hiểu cách chuyển chế độ màn hình bằng menu View cũng như biểu tượng Screen Modes trên Toolbar. Tuy nhiên vẫn còn một cách nữa nhanh hơn đó là sử dụng bàn phím. Nhấn phím F để chuyển từ Standard Screen Mode sang Full Screen Mode With Menu Bar. Nhấn F một lần nữa để chuyển sang Full Screen Mod. Và chỉ cần nhấn thêm một lần nữa nó sẽ quay trở lại chế độ Standard Screen Mode. Để đảo ngược các chế độ, nhấn Shift+F.

Trước đó, mình đã đề cập đến việc nhấn Esc để thoát khỏi chế độ toàn màn hình, tuy nhiên khi ở chế độ này, bạn nhấn phím F cũng sẽ làm được điều tương tự.

Cách Sử Dụng Workspaces Trong Photoshop

0

CÁCH SỬ DỤNG WORKSPACES TRONG PHOTOSHOP

Tìm hiểu về không gian làm việc (workspaces) của PTS và cách sử dụng chúng sao cho hợp lý cũng như cách tùy chỉnh giao diện PTS. Bao gồm không gian làm việc Essentials và các không gian làm việc tích hợp sẵn khác, cách lưu không gian làm việc tùy chỉnh.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về không gian làm việc trong PTS. Nó là một bố cục được cài đặt sẵn dành cho tất cả các phần tạo nên giao diện PTS. Ngoài ra nó còn xác định bảng điều khiển nào sẽ hiển thị trên màn hình cũng như cách sắp xếp các bảng đó. Không gian làm việc cũng có thể thay đổi những công cụ có sẵn trên Toolbar. Nó bao gồm các mục menu hay thậm chí cả các phím tắt. Tất cả những thứ này đều được coi là một phần của không gian làm việc.

Không gian làm việc cung cấp cho người dùng cách để tùy chỉnh giao diện PTS phù hợp cho công việc cụ thể. Bởi PTS có quá nhiều bảng xuất hiện trên màn hình cùng một lúc, thế nên điều quan trọng là chúng ta cần giới hạn sao cho chỉ hiển thị những bảng thực sự cần dùng đến. Ví dụ như một nhiếp ảnh gia thì sẽ chỉ sử dụng những bảng liên quan tới edit và retouch ảnh. Còn một họa sĩ ảnh kĩ thuật số thì lại cần những bảng khác để có thể lựa chọn cọ vẽ và màu sắc. Hay như một người thiết kế web và đồ họa, chỉnh sửa video thì lại cần dùng những bảng điều khiển phù hợp với công việc của họ. Không gian làm việc sẽ hợp lý hóa giao diện cho các tác vụ, giữ cho màn hình không bị lộn xộn và khiến cho công việc trở nên hiệu quả hơn.

Bạn Sẽ Học Được Gì Từ Bài Viết Này?

Chúng ta đã tìm hiểu về cách quản lý bảng điều khiển trong bài viết trước. Cũng như đã học về cách tùy chỉnh Toolbar mặc dù giờ nó được coi như một phần không thể thay đổi của không gian làm việc thì các mục như menu, phím tắt hay không gian làm việc thường được sử dụng để chuyển đổi giữa các bố cục bảng điều khiển. Vậy nên trong bài hướng dẫn này, chúng ta sẽ xem xét không gian làm việc mặc định của PTS cũng như các không gian được tích hợp sẵn. Tìm hiểu về cách chuyển đổi giữa các không gian làm việc. Hay thậm chí là cách lưu, cập nhật và xóa các không gian làm việc tùy chỉnh. Cuối cùng chúng ta sẽ học về cách khôi phục không gian làm việc về mặc định.

Bài hướng dẫn này phù hợp với trình Photoshop CC, đối với Photoshop CS6 bạn nên xem hướng dẫn cách lưu và chuyển đổi không gian làm việc trong Photoshop CS6.

Không Gian Làm Việc Mặc Định

Theo mặc định, PTS sử dụng không gian mặc định có tên gọi Essentials. Nếu bạn chưa bao giờ thay đổi sang sử dụng không gian nào khác, thì không gian làm việc bạn đang dùng chính là Essentials. Nó cũng chính là không gian làm việc mà mình sử dụng trong các bài hướng dẫn. Essentials là không gian làm việc có mục đích chung, phù hợp với nhiều công việc khác nhau. Nó bao gồm một số bảng điều khiển phổ biến như Layer, AdjustmentsProperties, ColorSwatches:

Không gian mặc định Essentials.

Bảng Điều Khiển Mặc Định

Hãy cùng xem xét kĩ hơn các bảng điều khiển mặc định. Như đã tìm hiểu trước đây, các bảng điều khiển nằm ở phía bên phải màn hình. Bảng Libraries (mới có trên Photoshop CC) nằm cột riêng ngoài cùng bên phải màn hình. Các bảng được sử dụng nhiều nhất như: Layers, Properties, Color v.v. nằm ở cột chính. Bên cạnh là một cột phụ chứa bảng HistoryDevice Preview. Theo mặc định, các bảng ở cột phụ được thu gọn chỉ hiện các biểu tượng. Người dùng có thể mở rộng bảng điều khiển ở chế độ chỉ hiện biểu tượng bằng cách nhấp vào biểu tượng của nó. Nhấp lại vào biểu tượng đó một lần nữa để thu gọn bảng điều khiển:

Các bảng trong không gian làm việc Essentials.

Các Không Gian Làm Việc Khác

Essentials tuy là không gian mặc định nhưng không phải là không gian làm việc duy nhất trong PTS. Ngoài nó ra còn có nhiều không gian làm việc khác để người dùng lựa chọn. Hãy đi tới menu Window rồi chọn Workspace. Tất cả những không gian làm việc được tích hợp trên PTS đều nằm được liệt kê tại đây, kể cả những không gian làm việc tùy chỉnh. Dấu tích bên cạnh Essentials cho biết nó hiện đang hoạt động. Để chọn một không gian làm việc khác, chỉ cần nhấp vào tên của nó để chọn:

Vào menu Window chọn Workspace.

Một cách khác đó là nhấp vào biểu tượng không gian làm việc ở phía bên phải của giao diện (ngay trên cột bảng điều khiển):

Nhấn vào biểu tượng Workspace.

Bạn sẽ tìm được danh sách các không gian làm việc tại đây. Dấu tích cho biết không gian làm việc nào đang hoạt động và bạn chỉ cần nhấn vào tên của nó để lựa chọn không gian làm việc:

Xuất hiện danh sách không gian làm việc.

Chọn Thử Không Gian Làm Việc Khác – Photography

Sau khi mở ra danh sách các không gian làm việc, hãy thử chọn một không gian làm việc khác. Ví dụ mình sẽ chọn Photography, như tên gọi của nó thì đây là một lựa chọn tốt để chỉnh sửa hình ảnh:

Chuyển sang không gian làm việc Photography.

Việc chuyển đổi không gian làm việc sẽ thay đổi các bảng điều khiển trên màn hình. Hãy cùng xem sự khác biệt giữa hai không gian làm việc Essentials và Photography. Ví dụ, bảng Libraries trước đây nằm ở một cột riêng bên phải cột chính thì nay đã được nhóm vào cùng với bảng Adjustments trong cột chính. Việc này giúp giải phóng thêm không gian để hiển thị hình ảnh.

Trong không gian làm việc Essentials, hai bảng điều khiển ColorSwatches được nhóm lại với nhau ở đầu cột chính, tuy nhiên trong không gian Photography thì vị trí này đã được thay thế bằng hai bảng HistogramNavigator. Hai bảng này cực kỳ hữu ích trong việc chỉnh sửa hình ảnh (edit, retouch). Ngoài ra cột phụ trong không gian Essentials có hai bảng HistoryDevice Privew thì ở không gian Photography chỉ còn lại bảng History (bảng Device Privew đã biến mất) và thêm ba bảng mới là Actions, Info, và Clone Source cùng với bảng Properties (trong không gian làm việc Essentials nó nằm ở cột chính). Thứ duy nhất không thay đổi giữa các không gian làm việc là bảng điều khiển Layers, ChannelsPaths. Ba bảng này vẫn được nhóm lại với nhau ở cột chính:

Bố cục bảng điều khiển cho không gian làm việc Photography.

Không Gian Làm Việc Painting

Hãy cùng thử một không gian làm việc khác bằng cách nhấp vào biểu tượng không gian làm việc ở phía trên bên phải giao diện, sau đó chọn thử không gian làm việc Painting:

Chọn không gian làm việc Painting.

Giống như không gian làm việc Photography phù hợp với việc edit ảnh thì không gian làm việc Painting cũng được sắp xếp sao cho phù hợp với tranh kĩ thuật số. Hiện tại, ở đầu cột chính bây giờ đã thay đổi thành bảng Swatches. Dưới nó là bảng Brush Presets. Cột phụ vẫn giữ nguyễn bảng History và bảng Clone Source. Nhưng ba bảng Actions, PropertiesInfo đã bị thay thế bằng hai bảng BrushTool Presets. Bảng Libraries đã chuyển từ cột chính sang cột phụ, giờ đây nó đã chiếm ít không gian hơn:

Bố cục bảng điều khiển không gian làm việc Painting.

Khôi Phục Không Gian Làm Việc Mặc Định

Để chuyển về không gian mặc định, hãy đi tới menu Window, chọn Workspace rồi chọn Essentials. Hoặc nhấn vào biểu tượng không gian làm việc phía trên bên góc phải rồi chọn Essentials:

Trở về không gian làm việc mặc định.

Bây giờ chúng ta quay lại bố cục bảng điều khiển mặc định:

Khôi phục bố cục bảng điều khiển mặc định.

Tùy Chỉnh Bố Cục Bảng Điều Khiển

Hãy thử thực hiện một vài thay đổi với bố cục bảng điều khiển mặc định của PTS. Khi hoàn tất chúng ta sẽ tìm hiểu cách lưu bố cục mới dưới dạng không gian làm việc tùy chỉnh. Mình đã để cập đến việc di chuyển và sắp xếp các bảng điều khiển trong bài hướng dẫn trước, nên phần này mình sẽ chỉ nhắc sơ qua.

Di Chuyển Bảng Điều Khiển

Đầu tiên thử di chuyển một trong các bảng hiện có. Mình sẽ nhóm bảng Libraries vào cùng nhóm với nhóm bảng Layers, Channels và Paths. Để làm được điều này, nhấp vào tab Libraries, giữ chuột rồi kéo nó vào nhóm bảng Layers, Channels và Paths ở cột chính. Khi xuất hiện khung màu xanh bao quanh nhóm này, thả chuột để thả bảng Libraries vào trong nhóm:

Kéo bảng Libraries vào nhóm Layers, Channels và Paths.

Mở Một Bảng Điều Khiển Mới

Tiếp theo, hãy mở thêm một bảng điều khiển chưa có trên màn hình. Mình sẽ đi tới menu Window và chọn Styles:

Mở bảng Styles từ menu Window.

Theo mặc định, PTS sẽ nhóm bảng Styles và cùng nhóm với hai bảng Properties và Adjustments ở cột chính:

Bảng Styles được xếp cùng một nhóm với hai bảng Properties và Adjustments.

Bây giờ mình muốn nhóm bảng Styles vào cùng nhóm với hai bảng Color và Swatches thì chỉ cần nhấp vào tab của nó và kéo nó lên vị trí nhóm Color và Swatches. Sau khi xuất hiện khung màu xanh bao quanh nhóm, thả nút chuột để bảng Styles được nhóm vào vị trí nhóm mới:

Kéo bảng Styles vào cùng nhóm với hai bảng Color và Swatches.

Đóng Bảng Điều Khiển

Cuối cùng, hãy đóng một trong các bảng điều khiển. Bảng Device Preview nằm ở cột phụ được thu gọn tới mức chỉ hiển thị biểu tượng. Mặc dù nó không chiếm nhiều diện tích tuy nhiên lại không thực sự cần nó hiển thị trên màn hình nên mình sẽ đóng nó lại. Để làm điều này, mình sẽ nhấp chuột phải (Window) hoặc Control nhấp chuột (Mac) vào biểu tượng của bảng điều khiển rồi chọn Close:

Đóng bảng Device Preview ở cột phụ.

Bây giờ trên màn hình đã là giao diện tùy chỉnh của mình. Trước khi tiếp tục, hãy nhớ rằng mình đã thực hiện thay đổi này đối với không gian mặc định của PTS – Essentials:

Bố cục mới.

Lưu Không Gian Làm Việc Mới

Để lưu một bố cục tùy chỉnh thành không gian làm việc mới, hãy đi tới menu Window, chọn Workspace sau đó chọn New Workspace. Hoặc kích vào biểu tượng không gian làm việc rồi chọn New Workspace:

Chọn New Workspace.

Trong hộp thoại New Workspace, hãy đặt tên cho không gian làm việc tùy chỉnh của bạn. Mình sẽ đặt thử là “Steve’s workspace’’. Bạn có thể đặt bất kì tên gì mà bạn muốn. Ở cuối hộp thoại là các tùy chọn bao gồm các phím tắt, menu tùy chỉnh cũng như bố cục Toolbar tùy chỉnh. Mình không tạo bất kì cái gì liên quan tới những thứ trên nên hiện tại hãy lướt qua chúng. Cuối cùng để lưu không gian làm việc mới, nhấp vào Save:

Đặt tên và lưu không gian làm việc mới.

Sau khi lưu không gian làm việc mới, Mình sẽ lại nhấp vào biểu tượng không gian làm việc ở góc trên bên trái màn hình, có thể thấy không gian làm việc mới lưu đã xuất hiện ở ngay đầu danh sách:

Không gian làm việc mới đã được thêm vào danh sách.

Cập Nhật Không Gian Làm Việc Tùy Chỉnh

Nếu cập nhật các thay đổi đối với bố cục bảng điều khiển, bạn có thể lưu các thay đổi bằng cách cập nhật không gian làm việc. Tất nhiên chúng ta không thể tìm thấy nút cập nhật không gian làm việc ở đâu cả. Thực tế các bước để cập nhật nó giống như lưu không gian làm việc vậy. Chúng ta sẽ lưu nó bằng cách sử dụng cùng một tên như trước. Hãy đi tới menu Window, chọn Workspace rồi chọn New Workspace. Hoặc nhấn vào biểu tượng không gian làm việc rồi chọn New Workspace. Tại hộp thoại được mở ra, hãy nhập chính xác tên giống với tên không gian làm việc hiện có. Ví dụ như của mình là “Steve’s workspace”, rồi sau đó nhấn Save. PTS sẽ lưu lại những thay đổi của bạn trong không gian làm việc này.

Đặt Lại Không Gian Làm Việc Mặc Định

Như đã nói từ trước để trở về không gian mặc định của PTS, người dùng chỉ cần chọn Essentials:

Chọn Essentials để quay lại không gian làm việc mặc định.

Lưu ý ngay cả sau khi chọn không gian làm việc Essentials thì bổ cục bảng điều khiển cũng vẫn không thay đổi. Thay vì hiện ra bố cục mặc định thì nó vẫn giữ nguyên bố cục tùy chỉnh:

Vẫn hiển thị bố cục tùy chỉnh ngay cả khi đã chuyển sang không gian làm việc Essentials.

Tại sao bố cục tùy chỉnh không hề bị thay đổi? Thử nhớ lại một chút lúc chúng ta tạo bố cục tùy chỉnh. Vấn đề ở đây là bảng điều khiển có tính “kết dính”, tức là PTS ghi nhớ những thay đổi của bố cục và nó sẽ giữ cho bố cục đó hoạt động tới khi nào ta thực hiện yêu cầu nó trở lại bố cục mặc định. Bởi vì đã thực hiện thay đổi đối với không gian Essentials nên việc chọn lại không gian này là chưa đủ. Để đưa bố cục bảng điều khiển về mặc định chúng ta cần đặt lại không gian làm việc.

Trước tiên hãy đảm bảo bạn đã chọn nó làm không gian đang hoạt động. Sau đó đi tới menu Window và chọn Workspace (hoặc nhấp vào biểu tượng không gian làm việc) rồi chọn Reset Essentials:

Reset Essentials.

Giờ đây, sau khi reset lại không gian làm việc Essentials, bố cục bảng điều khiển đã quay trở lại mặc định như lúc đầu:

Việc reset lại không gian làm việc Essentials đã xóa bố cục tùy chỉnh.

Xóa Không Gian Làm Việc Tùy Chỉnh

Cuối cùng, hãy tìm hiểu về cách xóa không gian làm việc tùy chỉnh. Mình sẽ xóa “Steve’s workspace”. Một lưu ý nhỏ đó là PTS không cho phép người dùng xóa không gian làm việc đang hoạt động. Vì thế trước tiên bạn cần chọn một không gian làm việc để cho nó khác hoạt động. Trong trường hợp của mình thì mình đã đổi sang không gian làm việc Essentials. Để xóa không gian làm việc tùy chỉnh, hãy đi tới menu Window rồi chọn Workspace (hoặc nhấn vào biểu tượng không gian làm việc) rồi chọn Delete Workspace:

Chọn Delete Workspace.

Trong hộp thoại Delete Workspace hãy chọn không gian mà bạn muốn xóa. Mình sẽ chọn “Steve’s workspace” sau đó nhấn Delete:

Chọn xóa không gian tùy chỉnh.

PTS sẽ hỏi bạn xem có chắc chắn xóa không gian làm việc này không, nhấp vào Yes:

Xác nhận xóa không gian làm việc.

Không gian làm việc tùy chỉnh đã bị xóa, hiện tại trên menu không gian làm việc đã không còn sự xuất hiện của “Steve’s workspace”:

Không gian làm việc tùy chỉnh đã bị xóa.

 

Bài Viết Ngâu Nhiên